Tết làng nhiều nỗi bâng khuâng
Tết nào mà chẳng là Tết! Vậy mà càng lớn lên, tôi càng thấy Tết ở làng mình nhạt dần cái vị ấm nồng năm cũ. Nếp nhà xưa vẫn đó, thịt lợn, bánh chưng xanh vẫn đủ đầy. Đầu đường cuối ngõ vẫn xôn xao, gốc đa sân đình vẫn rộn rã. Thế nhưng trong cái đông vui ấy, tôi vẫn nghe đâu đó một khoảng trống hoang hoải, một nỗi hụt hẫng khó gọi thành tên.
Quê tôi vốn là xã thuần nông. Ngày trước, dù có nghề phụ nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo. Cả làng chỉ lác đác vài con đường được đổ đất tôn cao, thi thoảng mới có đoạn xếp nghiêng mấy viên gạch cho ra dáng lối chính. Còn lại, đường làng lồi lõm ổ gà ổ trâu, mùa mưa thì thành rãnh nước, lẫn cả bùn đất và chất thải gia súc.

Chợ quê ngày Tết.
Người dân làng tôi nghèo đến dép chẳng có mà đi. Thế mà tết đến, làng tôi vui lắm.
Những ngày trời rét, mưa phùn gió bấc như ngấm từ bàn chân chạy thẳng lên đỉnh đầu. Người lớn ra đường phải gồng mình chống rét, trẻ con thì xoạc chân dò từng bước để khỏi trượt ngã. Thế nhưng, niềm háo hức vẫn sôi lên trong từng mái nhà.
Vui nhất vẫn là lũ trẻ. Chỉ cần nghĩ đến mấy ngày được ăn thịt gà, thịt lợn thỏa thích đã thấy lòng rộn ràng. Năm nào khá hơn, được bố mẹ sắm cho manh áo mới hay đôi dép mới là sung sướng đến mất ngủ. Tôi từng không ít lần ôm đôi dép mới vào giường, thậm chí đi cả vào chân mà ngủ, chỉ để thỏa nỗi ước mong giản dị của mình.
Tết khi ấy bước vào đời sống chúng tôi trước cả tháng. Từ anh chị em trong nhà đến lũ bạn trong xóm, ngoài lớp đều râm ra bàn chuyện tết. Nào là mổ con lợn bao nhiêu cân, gói mấy chục kg gạo nếp và hấp dẫn nhất là mua ngần nào bánh pháo. Đứa con nhà khá giả thì hớn hở khoe, đứa con nhà nghèo chỉ biết cúi đầu mân mê tà áo cũ quăn tít, mắt ngân ngấn nước.
Sẩm tối 30 Tết, không khí mới gọi là náo nức, bởi quanh làng trên xóm dưới chốc chốc lại đì đùng tiếng pháo. Lúc ấy, thú vui lớn nhất của bọn trẻ chúng tôi là trèo lên cây cao, nghe tiếng nổ mà đoán xem phát ra từ nhà nào. Nếu đoán đúng, cả bọn reo ầm như lập được chiến công. Từ chập tối đến tận giao thừa, cái trò “nghe nhạc đoán chương trình” chưa bao giờ chán.

Đồng bào Sán Dìu, xã Đạo Trù gói bánh chưng gù đón Tết.
Có lẽ, cũng bắt nguồn từ cái thú trẻ trâu ấy mà khối gia đình chiều lòng con trẻ, năm nào thu nhập có vẻ êm êm là thể nào cũng mua thêm cho con vài bánh pháo, hoặc mạnh tay mua hẳn mấy loại pháo có tiếng là nổ đanh, vang, to như Điện Quang, Bình Đà... Kết quả là cả xóm chỉ có lác mắt mà trầm trồ ghen tỵ.
Mấy ngày chính Tết, đâu đâu cũng rộn rã tiếng cười. Chỗ này đánh đáo, bắn bi; chỗ kia đu quay phần phật; chỗ nọ trầm mặc cờ người. Bất kể nắng hanh hay mưa phùn rét buốt, nhà nào cũng đầy khách chúc Tết, ngõ nào cũng rầm rầm bước chân qua lại, dù có khi bùn ngập đến mắt cá chân....
Càng nhớ càng thấy thương những ước mơ bé nhỏ thuở ấy. Chỉ mong một lần được ăn liền mấy chiếc bánh dừa mỏng dính thơm ngào ngạt. Chỉ ước có một đôi dép tông thật mới để khoe với lũ bạn. Đơn sơ vậy thôi mà đâu phải lúc nào cũng thành hiện thực.
Nhớ rồi lại thấy tiếc, tiếc bao ước mơ, thèm muốn khi ấy thật muôn phần đơn giản mà đâu dễ được một lần thỏa nguyện. Như ước một lần được ăn thỏa thích cả xấp bánh dừa mỏng dính thơm ngào ngạt, ước cuộc đời có một đôi dép tông thật mới để khoe với chúng bạn...
Làng tôi bây giờ thay da đổi thịt đến ngỡ ngàng. Thanh niên đi làm ăn khắp nơi, gửi tiền về xây nhà dựng gia đình, quê hương. Nhờ chăm chỉ, nỗ lực và biết cách làm ăn, kinh tế của các gia đình trong làng đều khá lên trông thấy. Không chỉ nhà cao, cửa rộng, đường làng ngõ xóm được mở rộng, đổ bê tông phẳng lỳ, ô tô đậu kín đường. Ngày Tết quê tôi vẫn đông vui, đủ đầy của ngon vật lạ từ khắp ba miền; các trò vui cơ bản vẫn còn đó, nhưng không khí cảm giác cứ lạ lẫm làm sao! Bản thân tôi cũng không còn cảnh đêm đêm quay quắt thèm một miếng bánh thơm, ngày nhớ nhung khao khát một đôi dép mới như xưa nữa.
Thế nhưng, giữa đủ đầy ấy, tôi lại thấy thiếu.
Hay tại tôi quá nhạy cảm, quá thủ cựu khư khư một nỗi niềm xưa cũ trong khi xã hội đã đổi thay chóng mặt. Làng tôi bây giờ cứ có dịp đông vui là nhất định phải uống rượu đến hết mình. Sau những cuộc rượu là những chiếu bạc “kiếm củi ba năm đốt một giờ”. Từ trẻ nhỏ đến người già đều có thể ngồi vào sát phạt. Rượu vào lời ra, được thua kéo theo cãi vã, làm xao động cả vùng quê vốn yên bình.
Đau lòng hơn, có những thanh niên mang theo cả thói hư tật xấu, thậm chí ma túy từ nơi làm ăn xa về làng, làm hư hỏng cả một số người lương thiện. Sự phát triển kinh tế, nếu văn hóa không theo kịp, đôi khi lại mở ra những khoảng trống đáng lo.
Ngẫm mà buồn. Hiện nay, dù vật chất có thể nhiều hơn xưa, nhưng niềm vui chưa chắc đã trọn vẹn như ngày cũ. Cái thiếu hôm nay không phải miếng ăn, manh áo, mà là sự bình yên trong nếp sống, là tiếng cười hồn nhiên không vướng bận toan tính.
Biết thế, nhưng thay vì lo lắng, không hiểu sao tôi vẫn cứ tin vào một ngày mai tươi sáng bởi ngoài kia, một mùa Xuân nữa lại về!





























