Tên gọi Ô Quan Chưởng có ý nghĩa gì?
Có nhiều cách lý giải ý nghĩa cái tên Ô Quan Chưởng của Hà Nội và đây cũng không phải là tên gọi duy nhất của di tích này.
Ô Quan Chưởng là cái tên quen thuộc dùng để gọi cửa ô duy nhất còn sót lại của Thăng Long xưa, nhưng không phải là cái tên đầu tiên hay duy nhất. Không nhiều người biết vì sao di tích này lại được gọi là Ô Quan Chưởng?
Ý nghĩa tên gọi Ô Quan Chưởng
Nguồn gốc tên gọi Ô Quan Chưởng hiện có nhiều cách lý giải. Theo một giả thuyết, vào cuối thời Lê, một vị quan Chưởng ấn sau khi về hưu đã lập dinh cơ gần cửa ô, từ đó người dân gọi nơi đây là Ô Quan Chưởng.
Một cách lý giải khác cho rằng vào thời Nguyễn, có một viên quan Chưởng cơ phụ trách kiểm soát cửa ô. Mọi thuyền bè qua lại đều phải trình báo với vị quan này, từ đó người dân quen gọi nơi đây là Ô Quan Chưởng.
Cách lý giải được nhiều người biết đến nhất gắn với sự kiện năm Tự Đức thứ 26 (1873), khi thực dân Pháp tấn công thành Hà Nội. Một vị Chưởng cơ người Bắc Ninh đã cùng quân lính chiến đấu chống trả quyết liệt. Do lực lượng quá chênh lệch, ông hy sinh sau trận chiến. Thương tiếc con người trung dũng, người dân quanh vùng đã gọi cửa ô này là Ô Quan Chưởng.
Cái tên Ô Quan Chưởng đi vào tiềm thức của người dân Hà Nội và cả nước.
Tên chữ của di tích là Đông Hà Môn do nằm ở khu vực phường Đông Hà trước đây. Ngoài ra, cửa ô này còn được gọi là Thanh Hà Môn.

Ô Quan Chưởng xưa.
Ô Quan Chưởng được xây dựng từ khi nào, có gì đặc biệt?
Ô Quan Chưởng được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749). Năm Cảnh Hưng thứ 46 (1785), cửa ô này được đại tu. Đến năm Gia Long thứ 3 (1804), cửa ô được xây dựng lại, mở rộng quy mô như hiện nay.
Ô Quan Chưởng được xây dựng theo kiểu vọng lầu, gồm hai tầng. Tầng thứ nhất có 3 cửa vòm, cửa chính ở giữa cao tới 3m, rộng gần 3m, hai cửa phụ hai bên, mỗi cửa rộng 1,65m, cao 2,5m. Hai bên cửa phụ có bậc thang lên tầng hai. Tầng thứ hai có vọng lầu 4 mái, thu nhỏ ngay tại vị trí nóc cửa chính, xung quanh có lan can trang trí các hình lục lăng, tứ giác, hoa thị.

Tầng thứ nhất của Ô Quan Chưởng có 3 cửa vòm.
Giữa phần trên nóc cửa chính và vọng lầu là một khung hình chữ nhật, cao gần 1m, rộng khoảng 3m, có đắp nổi ba chữ Hán “Đông Hà Môn” bằng những mảnh sứ xanh.
Tường phía bên trái cửa chính có gắn một tấm bia đá do Tổng đốc Hoàng Diệu cho đặt năm 1881 ghi lệnh cấm người canh gác không được sách nhiễu nhân dân mỗi khi qua lại cửa ô.

Cửa ô được xây dựng theo kiểu vọng lầu, có hai tầng.
Sau khi chiếm đóng Hà Nội, thực dân Pháp phá bỏ nhiều công trình cũ quanh thành để mở rộng khu phố mới. Tuy nhiên, khi có ý định phá dỡ Ô Quan Chưởng, họ vấp phải sự phản đối quyết liệt của người dân.
Theo lời truyền lại, thời điểm đó Ô Quan Chưởng thuộc tổng Đồng Xuân do ông Đào Đăng Chiểu (1845-1916), người làng Khúc Thủy, làm Thiên hộ trông coi. Ông cùng người dân kiên quyết không ký vào tờ trình xin phép phá dỡ, buộc người Pháp phải nhượng bộ. Nhờ vậy, Ô Quan Chưởng không bị phá bỏ và vẫn lưu giữ được nét kiến trúc đặc trưng đến ngày nay.
Năm 1994, Ô Quan Chưởng được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa.
Đến nay, người Hà Nội vẫn lưu truyền câu ca dao: “Long Thành bao quản nắng mưa/Cửa Ô Quan Chưởng bây giờ còn đây“, như lời nhắc về một di tích còn lại của Thăng Long xưa.




























