Tên anh trên bia đá nào
Chiều muộn, trong Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia A1, bà Đỗ Thị Thạnh, 70 tuổi, vẫn chậm rãi đọc từng dòng tên khắc trên bia đá. Người anh cả của bà Thạnh rời nhà khi mười tám tuổi, hẹn ngày đất nước hòa bình sẽ trở về. Hơn nửa thế kỷ sau, người em gái năm nào vẫn đi qua những nghĩa trang, tìm một nơi để gia đình có thể gọi anh trở về.

Bà Đỗ Thị Thạnh thành kính tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia A1.
Chúng tôi gặp bà Thạnh trong chuyến về Điện Biên thăm chiến trường xưa, tri ân các anh hùng liệt sĩ của Hội Người cao tuổi phường Hà An, tỉnh Quảng Ninh. Sau lễ viếng tại Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia A1, bà Dương Thị Mơ, Trưởng đoàn, nhắc mọi người tập trung phía cổng để tiếp tục hành trình. Riêng bà Thạnh vẫn nán lại giữa những hàng mộ.
Ánh nắng cuối ngày nhạt dần trên những hàng bia mộ. Khói hương quẩn quanh trên những bình cúc vàng rồi tan chậm trong không gian yên tĩnh. Bà Thạnh bước đến một phần mộ chưa xác định được thông tin, quỳ xuống, đặt hai bàn tay lên thành mộ rồi cúi rạp người. Người nằm dưới phần mộ ấy không phải người thân mà bà biết, nhưng trong khoảnh khắc ấy, khoảng cách giữa một người lính chưa được gọi tên và người anh trai bà đi tìm dường như không còn.
Khấn xong, bà đứng dậy, chậm rãi đi qua các hàng mộ khẽ đặt tay lên mặt đá lạnh. Từ khu mộ, bà tìm đến Bia ghi danh các anh hùng liệt sĩ hy sinh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Bà đứng sát mặt bia, một tay vịn nhẹ, tay kia lần theo từng dòng chữ. Thỉnh thoảng, bà dừng lại trước một cái tên có phần quen thuộc, đọc chậm từng chữ rồi khẽ lắc đầu thầm nói “không phải tên anh”...
Giữa những dòng tên được khắc trang trọng trên đá, bà Thạnh chỉ mong nhìn thấy tên người anh cả của mình là liệt sĩ Đỗ Văn Trường. Bà lần tìm từ đầu đến cuối dãy bia, chậm rãi, chăm chú như sợ bỏ sót một dòng tên. Rồi bà lấy điện thoại gọi về cho người thân. Giữa không gian linh thiêng của Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia A1, giọng bà run lên vì xúc động: “Tôi đang ở Điện Biên, đang ở Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia A1 rồi…”. Sau lời báo tin ngắn ngủi ấy, niềm mong đợi của cả gia đình đã kéo dài qua nhiều thế hệ càng thêm tha thiết.
Liệt sĩ Đỗ Văn Trường quê ở thôn Ngưu Khê, xã Liên Hòa, huyện Yên Hưng nay là khu phố 7, phường Liên Hòa, tỉnh Quảng Ninh. Ông là con đầu trong gia đình có tám anh, chị em; bà Thạnh là người con thứ năm. Thời gian đã làm nhòa nhiều mốc năm tháng, nhưng trong ký ức của bà, người anh cả vẫn luôn hiện hữu. Anh nhập ngũ khi vừa tròn mười tám tuổi. Bà nhớ nhất lần anh trở về sau khóa huấn luyện. Anh mặc bộ quân phục, nói với cả nhà lần này sẽ ra trận. Hôm ấy, người mẹ ra vườn hái rau đay, mùng tơi; mâm cơm có cà nén và một niêu cá bống kho. Bữa ăn đạm bạc như bao bữa cơm thời chiến, nhưng rồi trở thành bữa cuối cùng có đủ cha mẹ, người con trai cả và các em quây quần bên nhau.
Bà Thạnh kể: Sau ngày gia đình nhận giấy báo tử, nhưng bố mẹ vẫn không thôi ngóng người con trai cả trở về. Hễ nghe tin có bộ đội từ chiến trường cũ về quê, ông bà lại tìm hỏi, nghe ở đâu có thông tin về liệt sĩ, lại nhờ người dò giúp. Nhưng năm tháng trôi qua, cánh cửa ngôi nhà ở thôn Ngưu Khê vẫn không một lần đón anh Trường trở lại như lời hẹn trong bữa cơm tiễn anh ra trận. Đến cuối đời, bố mẹ chỉ có một mong ước giản dị: Biết con đang nằm ở đâu, có một nấm mồ mang đúng tên con để gia đình còn nơi thắp hương vào ngày giỗ, ngày tết. Trên bàn thờ hiện nay, vị trí dành cho liệt sĩ Đỗ Văn Trường chỉ có tấm Bằng Tổ quốc ghi công - niềm tự hào của gia đình, nhưng cũng là khoảng trống chưa thể khép lại trong lòng những người ở lại.
Bà Dương Thị Mơ (trưởng đoàn chuyến tham quan từ Quảng Ninh lên Điện Biên) chia sẻ: Suốt chuyến đi, chúng tôi đều hiểu bà Thạnh mang theo tâm nguyện của cả gia đình. Với bà, về Điện Biên không chỉ là một chuyến tri ân mà còn là thêm một lần tìm anh, dù hy vọng rất mong manh.
Chiều hôm ấy, tên anh là liệt sĩ Đỗ Văn Trường chưa được tìm thấy trên những tấm bia bà đã đọc, bà nói sẽ tiếp tục đến Nghĩa trang Liệt sĩ Him Lam, Tông Khao và những địa chỉ khác.
Nỗi niềm của bà Thạnh cũng là nỗi niềm của nhiều gia đình liệt sĩ trên cả nước. Chỉ tính riêng tại Điện Biên, khoảng 5.280 phần mộ vẫn chưa xác định được danh tính; tại các nghĩa trang, những tấm bia chưa xác định được danh tính nối tiếp qua nhiều hàng mộ. Phía sau mỗi tấm bia có thể là một người mẹ từng đợi con đến cuối đời, một người vợ chưa biết chồng nằm lại nơi đâu, những người em đang già đi trong lúc ký ức về anh mình ngày một xa.
“Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đang mở thêm một hướng đi cho những cuộc tìm kiếm lâu nay chủ yếu dựa vào ký ức, hồ sơ cũ và những lời kể đã phai mờ theo năm tháng. Tại Điện Biên, cấp ủy, chính quyền địa phương xác định đây là nhiệm vụ chính trị đặc biệt gắn với trách nhiệm trước lịch sử và đạo lý tri ân những người đã hy sinh vì Tổ quốc. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ và các lực lượng liên quan phấn đấu lấy mẫu tại 4.594 phần mộ chưa xác định thông tin ở 7 nghĩa trang, trong đó có A1, Him Lam, Độc Lập và Tông Khao.
Thời gian đã lùi xa, hồ sơ thiếu hụt, nhân chứng ngày càng ít. Việc lấy mẫu sinh phẩm, hoàn thiện dữ liệu và đối chiếu ADN chưa thể trả lời ngay câu hỏi của mọi gia đình. Nhưng mỗi mẫu đủ điều kiện giám định, mỗi hồ sơ được bổ sung, mỗi thông tin được kết nối đều mở thêm cơ hội để những tấm bia chưa xác định được danh tính trả lại đúng tên người nằm xuống.
Chiều chậm xuống trên Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia A1. Trước khi rời đi, bà Thạnh ngoái nhìn những hàng bia trong làn khói hương mỏng. Lời hẹn trở về bên mâm cơm năm ấy vẫn chưa thành. Nhưng trong ký ức của bà, người anh cả vẫn ở tuổi mười tám, vẫn mặc bộ quân phục sau khóa huấn luyện và lời dặn em ở nhà ngoan, biết giúp đỡ thầy mẹ.
Còn bà, từ cô em gái nhỏ năm nào, nay đã 70 tuổi, tóc bạc, mắt mờ, vẫn đi qua những nghĩa trang, chậm rãi dò tìm tên anh trên từng tấm bia đá. Bởi đâu đó, dưới một phần mộ chưa xác định được danh tính, có thể là người anh mà bà và gia đình đã ngóng đợi suốt hơn nửa thế kỷ.





























