Tập trung hoàn thiện thể chế về kinh tế số

Việt Nam đã xác định vai trò trung tâm của kinh tế số trong chiến lược phát triển đất nước. Tuy nhiên, nền kinh tế số vẫn đang bị “bủa vây” bởi không ít nút thắt thể chế chưa được tháo gỡ, những quy định còn “phân mảnh”, tính thích ứng “chậm nhịp” so với tốc độ số hóa.

Người dân làm thủ tục hành chính và nhận kết quả trực tuyến tại phường Định Công, thành phố Hà Nội. (Ảnh HẢI MINH)

Người dân làm thủ tục hành chính và nhận kết quả trực tuyến tại phường Định Công, thành phố Hà Nội. (Ảnh HẢI MINH)

Việt Nam đã xác định vai trò trung tâm của kinh tế số trong chiến lược phát triển đất nước. Tuy nhiên, nền kinh tế số vẫn đang bị “bủa vây” bởi không ít nút thắt thể chế chưa được tháo gỡ, những quy định còn “phân mảnh”, tính thích ứng “chậm nhịp” so với tốc độ số hóa. Hoàn thiện thể chế về kinh tế số là yêu cầu bức thiết trong hành trình hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước.

Động lực quan trọng của tăng trưởng

Để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045; xác lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng (2030-2130), Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.

Thứ trưởng Tư pháp Nguyễn Thanh Tú nhận định, đây là nghị quyết có ý nghĩa hết sức quan trọng, xác định đến năm 2035 Việt Nam xây dựng mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập. Nghị quyết số 19-NQ/ TW khẳng định kinh tế số là một trong những trụ cột quan trọng của mô hình phát triển kinh tế Việt Nam trong thời gian tới. Do đó, việc sớm hoàn thiện khung pháp lý cho kinh tế số là cần thiết, dựa trên nền tảng của hệ thống pháp luật hiện hành, bổ sung các quy định để xử lý những đặc trưng, đặc thù của nền kinh tế số.

Nghị quyết số 19-NQ/ TW khẳng định kinh tế số là một trong những trụ cột quan trọng của mô hình phát triển kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.

Thực tế, kinh tế số đã và đang hiện diện trong hầu hết hoạt động thường ngày như sử dụng mã QR để truy xuất nguồn gốc sản phẩm; mua bán qua mạng xã hội; trả kết quả xét nghiệm trực tuyến hay giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử. Kinh tế số đang trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, đổi mới mô hình kinh doanh và nâng cao năng suất lao động. Năm 2025, giá trị tăng thêm của kinh tế số Việt Nam ước đạt 14,02% GDP, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, gấp 1,64 lần năm 2020. Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 12,1% mỗi năm.

Những con số này cho thấy kinh tế số đang phát triển nhanh. Tuy nhiên, theo chuyên gia kinh tế, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long, khoảng cách từ mức 14,02% GDP đến mục tiêu tối thiểu 30% GDP vào năm 2030 vẫn rất lớn. “Phải hình thành một môi trường thể chế trong đó dữ liệu được lưu chuyển có kiểm soát; tài sản số được xác lập và bảo vệ; mô hình kinh doanh mới có cơ hội thử nghiệm; cạnh tranh được duy trì; người tiêu dùng được bảo vệ và trách nhiệm của từng chủ thể được xác định rõ ràng”, ông Long phân tích.

Theo Tiến sĩ Lê Minh Nghĩa, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam, trong gần 20 năm, Việt Nam đã từng bước hình thành khuôn khổ pháp luật cho kinh tế số với nhiều đạo luật nền tảng, góp phần quan trọng vào việc công nhận giá trị pháp lý của dữ liệu và giao dịch điện tử; tạo điều kiện cho phát triển hạ tầng số, thương mại điện tử, ngân hàng số và thanh toán không dùng tiền mặt.

Ngoài ra, hạn chế lớn nhất hiện nay của hệ thống pháp luật chính là sự “phân mảnh”. Pháp luật cũ có độ “lão hóa” cao, pháp luật mới lại thiếu thời gian kiểm nghiệm. Vẫn còn khoảng cách giữa công nhận “giao dịch điện tử” và “số hóa thực chất”. “Giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu đã được công nhận, nhưng nhiều quy trình vẫn yêu cầu bản sao, đối chiếu, xác nhận hoặc thao tác thủ công do văn bản chuyên ngành, thói quen quản lý và hệ thống thông tin chưa tương thích. Tình trạng “điện tử hóa mặt trước, xử lý giấy ở mặt sau” làm giảm tác dụng của luật”, Tiến sĩ Lê Minh Nghĩa phân tích.

Bên cạnh đó, vấn đề an ninh, an toàn và bảo vệ người dùng chưa theo kịp với độ mở của thị trường; còn mâu thuẫn tiềm ẩn giữa khai thác dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân; còn khoảng cách số và năng lực tuân thủ.

Pháp luật phải minh bạch, thích ứng để không trở thành lực cản

Giá trị của kinh tế số không nằm ở tài sản hữu hình mà ở dữ liệu, mã nguồn, thuật toán…; do đó, thể chế cho mô hình này vận hành cần có nhiều khác biệt với kinh tế truyền thống. Để hoàn thiện thể chế về kinh tế số, giải phóng được các nguồn lực công nghệ, vốn, nhân lực và sáng tạo phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long đề xuất ba yêu cầu cốt lõi.

Trước hết, pháp luật minh bạch để tạo niềm tin với các quy định rõ ràng, dễ tuân thủ với người dân, doanh nghiệp. Minh bạch cũng đòi hỏi phải đánh giá đầy đủ chi phí tuân thủ. Khi đề xuất một nghĩa vụ mới, cơ quan soạn thảo không chỉ cần xác định quy định sẽ kiểm soát rủi ro gì, mà còn phải tính đến doanh nghiệp phải bỏ thêm bao nhiêu thời gian, nhân lực và chi phí, doanh nghiệp nhỏ có đủ khả năng đáp ứng hay không. Cùng với đó, pháp luật phải linh hoạt để quản lý đúng mức độ rủi ro, phải thích ứng để không trở thành lực cản.

Tiến sĩ Lê Minh Nghĩa cho rằng, để hoàn thiện thể chế kinh tế số cần giải đáp một số vấn đề: Làm thế nào để nhiều luật vận hành như một hệ thống? Làm thế nào để khai thác dữ liệu mà không làm suy giảm quyền riêng tư? Làm thế nào để quản lý trí tuệ nhân tạo mà không triệt tiêu đổi mới? Làm thế nào để bảo vệ người dùng trong thời đại giả mạo bằng trí tuệ nhân tạo?

Ông Nghĩa đề xuất, giai đoạn tới phải xây dựng kiến trúc pháp luật kinh tế số tích hợp; xây dựng cổng tuân thủ số và cơ chế “một lần khai báo”; phát triển hạ tầng dữ liệu tin cậy và thị trường dữ liệu có trách nhiệm; tăng cường bảo vệ người tiêu dùng số và cơ chế phân bổ thiệt hại; tạo môi trường thử nghiệm có kiểm soát và hỗ trợ đổi mới; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi và tuân thủ.

Thứ trưởng Tư pháp Nguyễn Thanh Tú cho rằng, yêu cầu không kém phần quan trọng là nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật. Nếu pháp luật được xây dựng tốt nhưng việc thực thi không hiệu quả, chi phí tuân thủ cao sẽ khó tạo động lực cho phát triển kinh tế số. Nếu nguồn nhân lực không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế số thì khó có thể thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực quan trọng này.

HƯƠNG NGUYÊN

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/tap-trung-hoan-thien-the-che-ve-kinh-te-so-post980879.html