Tạo chuyển biến thực chất

Từ đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực đến phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường, hoạt động khuyến công đang ngày càng bám sát nhu cầu của cơ sở công nghiệp nông thôn. Thực tiễn tại nhiều địa phương cũng đặt ra yêu cầu chuyển từ chú trọng số lượng đề án, kinh phí hỗ trợ sang những chuyển biến thực chất về năng suất, giá trị sản phẩm và khả năng tiếp cận thị trường.

Hỗ trợ ngày càng sát nhu cầu sản xuất

Theo Sở Công Thương Hà Nội, hoạt động khuyến công đang được triển khai ngày càng sát nhu cầu của các cơ sở công nghiệp nông thôn, từ đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm đến đào tạo nhân lực và mở rộng thị trường.

Với khoảng 1.350 làng nghề và làng có nghề, trong đó 308 làng nghề được công nhận, Hà Nội có dư địa lớn để phát huy vai trò của khuyến công. Năm 2026, thành phố tập trung hỗ trợ đào tạo nghề, nâng cao năng lực quản trị, đổi mới máy móc, thiết bị, thiết kế mẫu mã, bao bì và xúc tiến thương mại. Hơn 2.000 lượt cán bộ quản lý được tập huấn; 40 lượt cơ sở được hỗ trợ thiết kế mẫu mã, bao bì. Các hoạt động triển lãm, hội chợ trong nước và tại Nhật Bản, Hong Kong, Thái Lan thu hút gần 800 lượt cơ sở, doanh nghiệp tham gia.

Cùng với đó, việc lồng ghép khuyến công với các chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm, sản xuất và tiêu dùng bền vững, xúc tiến thương mại góp phần hỗ trợ cơ sở công nghiệp nông thôn chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và mở rộng thị trường.

Hoạt động khuyến công đang từng bước chuyển từ hỗ trợ đơn thuần sang tạo động lực đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất. Ảnh: Quỳnh Nga

Hoạt động khuyến công đang từng bước chuyển từ hỗ trợ đơn thuần sang tạo động lực đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất. Ảnh: Quỳnh Nga

Tại Thái Nguyên, nguồn lực khuyến công tập trung vào đổi mới công nghệ, ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến nhằm nâng năng suất, chất lượng sản phẩm. Năm 2025, tỉnh thực hiện 24 đề án, nhiệm vụ với tổng kinh phí khoảng 4,3 tỷ đồng; năm 2026 dự kiến triển khai 20 đề án, nhiệm vụ với kinh phí khoảng 3,3 tỷ đồng. Theo Sở Công Thương Thái Nguyên, việc lựa chọn nội dung hỗ trợ sát nhu cầu đã góp phần giúp các cơ sở thay đổi phương thức sản xuất, nâng năng suất và hiệu quả kinh doanh.

Ở địa bàn miền núi như Lai Châu, khuyến công vừa hỗ trợ đổi mới máy móc, thiết bị, vừa giúp các cơ sở xây dựng nhãn hiệu, phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, quảng bá sản phẩm và nâng cao năng lực. Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh triển khai 30 đề án với tổng kinh phí hỗ trợ 4,7 tỷ đồng.

Thực tiễn tại các địa phương cho thấy khuyến công đang dịch chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ về máy móc, thiết bị sang hỗ trợ đồng bộ hơn, từ đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực đến phát triển sản phẩm, chuyển đổi số và mở rộng thị trường. Sự chuyển dịch này cũng đặt ra yêu cầu lựa chọn đúng nhu cầu và nâng chất lượng từng đề án để nguồn lực hỗ trợ tạo được chuyển biến thực chất tại cơ sở.

Hướng nguồn lực vào hiệu quả thực chất

Cùng với những kết quả đạt được, thực tiễn triển khai khuyến công đang đặt ra một số vấn đề về cơ chế, nguồn lực và năng lực tổ chức thực hiện.

Tại Hà Nội, địa bàn rộng trong khi nguồn nhân lực thực hiện còn hạn chế; mức hỗ trợ ở một số nội dung chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư. Nhiều cơ sở công nghiệp nông thôn vẫn hạn chế về công nghệ, năng suất, chất lượng sản phẩm, chuyển đổi số, thiết kế bao bì và khả năng tiếp cận thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu.

Khó khăn có những biểu hiện khác tại địa bàn miền núi; ở Lai Châu, việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp làm thay đổi đầu mối và phương thức phối hợp, trong khi cán bộ cấp xã đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ, khuyến công chủ yếu là kiêm nhiệm. Phần lớn cơ sở công nghiệp nông thôn có quy mô nhỏ, hạn chế về tài chính, quản trị và khả năng nắm bắt thị trường. Một số cơ sở phải điều chỉnh phương án hoặc dừng hỗ trợ khi kế hoạch sản xuất, kinh doanh thay đổi.

Những khác biệt đó cho thấy việc xây dựng đề án khuyến công cần bắt đầu từ nhu cầu và năng lực thực tế của cơ sở, đồng thời tính đến đặc thù từng địa bàn. Việc lựa chọn đối tượng thụ hưởng cần gắn với khả năng triển khai, nguồn vốn đối ứng và hiệu quả dự kiến, hạn chế tình trạng nguồn lực bị phân tán hoặc đề án phải điều chỉnh trong quá trình thực hiện.

Theo đó, Hà Nội đề xuất tăng phối hợp giữa cơ quan quản lý, đơn vị khuyến công và chính quyền cấp xã; đồng thời gắn khuyến công chặt hơn với phát triển làng nghề, OCOP, xúc tiến thương mại, du lịch và thương mại điện tử. Các nội dung hỗ trợ về đào tạo nghề, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu và liên kết vùng cũng cần được quan tâm hơn.

Từ thực tiễn Lai Châu, yêu cầu đặt ra là tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, xác định rõ đầu mối thực hiện và tăng hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ cơ sở. Đối với địa bàn miền núi, biên giới, cơ chế và mức hỗ trợ cũng cần tính đến điều kiện thực tế để chính sách có thể đến được với những cơ sở có nhu cầu nhưng năng lực còn hạn chế.

Trong khi đó, Thái Nguyên đề xuất ưu tiên các đề án có khả năng tạo chuyển biến rõ về năng suất, chất lượng, tiết kiệm năng lượng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng giá trị sản phẩm. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu chuyển khuyến công từ hỗ trợ đầu vào sang chú trọng kết quả đầu ra.

Cùng với nâng chất lượng đề án, các địa phương đề nghị tiếp tục hoàn thiện hướng dẫn về tổ chức thực hiện, cơ chế tài chính và chuyển tiếp nhiệm vụ khuyến công; rà soát mức hỗ trợ phù hợp với từng địa bàn và sớm hoàn thiện các định mức kinh tế - kỹ thuật cần thiết.

Giai đoạn tới, yêu cầu đặt ra không phải tăng số lượng đề án hay kinh phí hỗ trợ, mà là lựa chọn đúng đối tượng, đúng nhu cầu và tập trung nguồn lực vào những nội dung có khả năng tạo chuyển biến thực chất. Hiệu quả khuyến công cần được thể hiện bằng năng lực sản xuất được nâng lên, sản phẩm có giá trị cao hơn, thị trường được mở rộng và khả năng tự phát triển của cơ sở công nghiệp nông thôn sau hỗ trợ.

Trúc Oanh

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/tao-chuyen-bien-thuc-chat-10432672.html