Tăng trưởng hai con số - động lực của thịnh vượng

Thành công của Đại hội Đảng lần thứ XIV mở ra năm Bính Ngọ bình an, thịnh vượng với kế hoạch phát triển đầy khát vọng, hướng tới tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030. Nền kinh tế chuyển mình từ mô hình truyền thống sang khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, lấy chuyển đổi số - xanh làm động lực cốt lõi, năng suất nhân tố tổng hợp TFP đóng góp trên 57% tăng trưởng, như 'ngựa phi nước đại' vươn tới tương lai rạng ngời.

Các động lực tăng trưởng chiến lược

Trong không khí phấn khởi mừng Xuân mới, mừng thành công của Đại hội XIV của Đảng, đất nước bước vào năm Bính Ngọ với niềm tin “mã đáo thành công” và tâm thế chủ động cho chặng đường phát triển mới. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 được triển khai với khát vọng tăng trưởng mạnh mẽ, hướng tới mục tiêu GDP bình quân trên 10%/năm. Cùng với đó, nền kinh tế từng bước chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào tài nguyên và lao động sang dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; lấy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh làm động lực cốt lõi, với năng suất các nhân tố tổng hợp TFP đóng góp trên 57% tăng trưởng kinh tế.

TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu năm 2026 tăng trưởng trên 10% Ảnh: Lê Vũ

TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu năm 2026 tăng trưởng trên 10% Ảnh: Lê Vũ

Nền kinh tế nước ta đã chứng tỏ sức chống chịu kiên cường trước nhiều cú sốc toàn cầu như đại dịch Covid-19, xung đột địa chính trị, chính sách bảo hộ thương mại, vẫn đạt mức tăng trưởng trên 8% năm 2025 với quy mô khoảng 510 tỷ đô la Mỹ, tạo nền tảng khả thi cho mục tiêu hai con số nhờ sự ổn định kinh tế vĩ mô và dư địa chính sách. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng chúng ta cần phải tiếp tục cuộc "cách mạng nguồn lực" qua cải cách thể chế, để biến thể chế từ “điểm nghẽn” thành “lợi thế” cạnh tranh, huy động và sử dụng vốn đầu tư toàn xã hội sao cho hiệu quả nhất và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chất lượng cao.

Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước coi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là "động cơ vĩnh cửu" của nền kinh tế. Kinh tế số có vị trí quan trọng khi sẽ chiếm khoảng 30% GDP với cơ sở dữ liệu là tài nguyên chiến lược, phát triển công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, sản xuất thông minh và thương mại điện tử xuyên biên giới. Việt Nam đã có nhiều cơ chế, chính sách ưu tiên nghiên cứu và phát triển công nghệ R&D thông qua hợp tác công - tư, cơ chế thử nghiệm sandbox cho các mô hình kinh tế mới từ fintech, ngân hàng số đến công nghệ không gian vũ trụ, không gian ngầm, đại dương…; kết nối FDI chất lượng cao với doanh nghiệp nội địa để chuyển giao công nghệ, nâng năng suất lao động gấp 2-3 lần hiện tại.

Chúng ta coi quá trình chuyển đổi kép xanh - số là xu thế tất yếu và kỳ vọng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế; trong đó năng lượng tái tạo và điện hạt nhân đủ để đáp ứng tốc độ tăng trưởng đồng thời giảm phát thải khí nhà kính theo các cam kết quốc tế. Việt Nam cũng coi trọng phát triển các ngành công nghiệp chế biến chế tạo theo chuỗi giá trị nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế, ngành dịch vụ; lấy kinh tế tư nhân làm đầu tàu với các tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô tầm cỡ khu vực.

Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao, Việt Nam cần tạo đột phá trong huy động các nguồn vốn đầu tư đa dạng, từ trái phiếu xanh, quỹ hạ tầng đến sự phối hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa chính sách tài khóa và tiền tệ. Nguồn vốn đầu tư công cần được ưu tiên cho các công trình động lực như hệ thống đường bộ cao tốc, đường sắt cao tốc Bắc - Nam, các sân bay Long Thành, Gia Bình, các khu kinh tế tự do, các dự án năng lượng quy mô lớn, cùng các công trình y tế, thiết chế văn hóa và thể thao đạt tầm khu vực và thế giới…

Cộng đồng doanh nghiệp và người dân kỳ vọng vào quyết tâm tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế, theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với nâng cao tính tự chủ và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương; đồng thời kiên quyết phòng, chống tham nhũng, đẩy mạnh công khai, minh bạch trong hoạch định và thực thi chính sách. Qua đó, củng cố niềm tin xã hội, tạo điều kiện để các chủ thể yên tâm đầu tư, sản xuất, kinh doanh và chung sức phát triển đất nước.

Tăng trưởng gắn với chất lượng cuộc sống của người dân

Việt Nam luôn gắn tăng trưởng kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội thông qua tích hợp 3 Chương trình mục tiêu quốc gia: xây dựng nông thôn mới hiện đại, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, với ngân sách trên 423 nghìn tỷ đồng, nhằm đảm bảo mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt nông dân và nhóm yếu thế được thụ hưởng thành quả của phát triển một cách bền vững.

Chương trình tập trung xây dựng thành công nông thôn mới thực chất với 85% số xã đạt chuẩn, trong đó có 30% đạt tiêu chí nông thôn mới hiện đại, nâng dần thu nhập ở nông thôn lên gấp 2,5 - 3 lần, đạt khoảng 100 - 125 triệu đồng/người/năm, kết hợp phát triển văn hóa, y tế, giáo dục để nâng chất lượng cuộc sống của người dân, đồng bộ với mô hình tăng trưởng xanh không chỉ ở địa bàn nông thôn mà trong phạm vi cả nước. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026 - 2030 ưu tiên thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách an sinh, phúc lợi xã hội cho người có công, người cao tuổi, trẻ em và đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa để thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị với nông thôn, giữa đồng bằng với vùng trung du, miền núi.

Các mục tiêu tăng trưởng việc làm bền vững gắn với năng suất lao động cao trên nền ổn định vĩ mô, lạm phát được kiểm soát dưới 4,5%/năm sẽ bảo đảm thu nhập thực tế và cuộc sống ổn định của người dân, giảm thiểu những tác động tiêu cực do tình hình kinh tế quốc tế, hướng tới cải thiện rõ rệt đời sống của người dân, đạt chuẩn thu nhập trung bình cao bền vững vào năm 2030.

Cần phải nhìn nhận là mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10%/năm giai đoạn 2026 - 2030 trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm, đối mặt suy thoái nhẹ, lạm phát dai dẳng, xung đột địa chính trị, gia tăng bảo hộ thương mại và chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu, chưa kể tới rủi ro lạm phát cao, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu… là thách thức rất lớn.

Tuy nhiên thách thức này lại tạo cơ hội cho Việt Nam, nhờ sức chống chịu kiên cường của nền kinh tế, tận dụng dòng vốn FDI dịch chuyển từ các nước, nhất là chuyển dịch vào các ngành kinh tế mới như: vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, hydrogen…, phát huy các hiệp định thương mại tự do để đẩy mạnh xuất khẩu. Nhiều phân tích kinh tế sâu đã chỉ ra Việt Nam cần có chiến lược thích ứng và cải cách mạnh mẽ để các động lực nội tại của nền kinh tế đạt mức vượt trội, đưa TFP trên 57% mới có thể biến thách thức thành lợi thế cạnh tranh.

Nhân dân và cử tri kỳ vọng vào vai trò của Quốc hội

Trong bối cảnh yêu cầu cao, kỳ vọng hóa rồng lớn như vậy, với lịch sử 80 năm hình thành và phát triển, Quốc hội Việt Nam lúc này chắc chắn sẽ phát huy vai trò trung tâm trong hoạt động lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng quốc gia theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, để hỗ trợ tăng trưởng gắn với đổi mới thể chế, an sinh xã hội và phát triển bền vững. Quốc hội Khóa XVI sẽ tiên phong hoàn thiện khung pháp lý hiện đại hóa quản trị nhà nước, luật hóa phân cấp - phân quyền thực chất, cắt giảm mạnh mẽ thủ tục hành chính và thúc đẩy chính phủ số, xã hội số, đảm bảo thể chế từ "điểm nghẽn" thành động lực tăng trưởng, đảm bảo pháp luật minh bạch, chống tham nhũng, phù hợp cam kết quốc tế.

Để tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với khung pháp lý thống nhất, đồng bộ, luật hóa phân cấp, phân quyền kèm kiểm soát quyền lực, minh bạch trách nhiệm cá nhân lãnh đạo; ưu tiên năng lực tổ chức thực thi chính sách qua công nghệ số, quản lý tri thức và cải cách quy trình hành chính; tập trung vào ba trụ cột: thể chế hiện đại, thị trường hiệu quả, nhân lực chất lượng cao; phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa - tiền tệ, tháo gỡ rào cản thị trường để huy động các nguồn lực xã hội. Mô hình tổ chức chính quyền 3 cấp sẽ nâng hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, tạo sự đột phá tăng trưởng bền vững đòi hỏi năng lực chính quyền địa phương trong xử lý các tình huống cụ thể.

Bên cạnh đó, sự giám sát tối cao của Quốc hội trong thực thi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030 nói chung và các chương trình, dự án cụ thể, quyết định nhân sự lãnh đạo then chốt, đánh giá hiệu quả quản trị quốc gia qua bộ chỉ số là rất quan trọng thông qua các kênh lắng nghe, tiếp thu ý kiến của Nhân dân, cử tri. Chắc chắn Quốc hội Việt Nam sẽ là một thành tố quan trọng, góp phần đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia thu nhập trung bình cao vào năm 2030 để hóa rồng vào năm 2045 như kỳ vọng.

TS. Trần Văn, ĐBQH Khóa XII, XIII

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/tang-truong-hai-con-so-dong-luc-cua-thinh-vuong-10406871.html