Tăng cường gắn kết hai nền kinh tế Việt Nam-Lào
Trước thềm các chuyến công tác tới Lào của Tổng Bí thư Tô Lâm và Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Đại sứ Việt Nam tại Lào Nguyễn Minh Tâm trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Nhân Dân về những điểm sáng trong quan hệ kinh tế giữa hai nước và việc tăng cường kết nối hai nền kinh tế.

Đại sứ Việt Nam tại Lào Nguyễn Minh Tâm. (Ảnh: TRỊNH DŨNG)
Phóng viên: Xin Đại sứ cho biết những điểm sáng trong quan hệ kinh tế giữa hai nước Việt Nam-Lào cũng như một số mô hình hợp tác hiệu quả trong thời gian qua?
Đại sứ Nguyễn Minh Tâm: Trong thời gian qua, được sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo cấp cao, sự tham gia tích cực của các bộ, ngành, doanh nghiệp hai nước, hợp tác kinh tế-thương mại giữa Việt Nam và Lào tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ và có rất nhiều điểm sáng.
Về hợp tác đầu tư, hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam tại Lào nhìn chung đã đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế-xã hội, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho hàng nghìn lao động, bổ sung nguồn thu cho ngân sách nhà nước Lào. Bên cạnh hoạt động đầu tư, các doanh nghiệp Việt Nam đã thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thông qua các hoạt động an sinh xã hội tại Lào.
Đặc biệt là ngày càng có nhiều doanh nghiệp lớn của Việt Nam, có tiềm lực và quản trị chuyên nghiệp đã tiến hành nghiên cứu cơ hội, tiềm năng thị trường và thực hiện đầu tư bài bản vào Lào. Sự hiện diện của các doanh nghiệp đầu tàu không chỉ tạo sức lan tỏa mạnh mẽ mà còn dẫn dắt, tạo khí thế và củng cố niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam tại Lào, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Có thể kể đến một số mô hình tiêu biểu như: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đầu tư và sản xuất kinh doanh nông nghiệp Nam Lào triển khai Dự án nông nghiệp thông minh quy mô ứng dụng công nghệ cao từ sản xuất đến chế biến, hình thành chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại tại tỉnh Attapeu; Tập đoàn Việt Phương đầu tư nhà máy, nâng cao giá trị gia tăng của khoáng sản tại tỉnh Sekong; Công ty cổ phần Năng lượng Việt-Lào triển khai các dự án điện gió tại tỉnh Bolikhamxay bổ sung nguồn năng lượng sạch và ổn định phục vụ trong nước và xuất khẩu.
Bên cạnh đó các tập đoàn, tổng công ty như: Vietnam Airlines, BIM Group… đầu tư bài bản vào lĩnh vực hàng không dân dụng, phát triển các dự án khách sạn, nghỉ dưỡng hiện đại góp phần thúc đẩy và phát triển ngành du lịch tại Lào. Công ty Star Telecom (Unitel) hợp tác với Viettel Post xây dựng và phát triển hệ thống logistics tại Lào...

Các đại biểu tại lễ ra mắt Unitel Logistics. (Ảnh: DUY TOÀN)
Những mô hình này được các doanh nghiệp triển khai bài bản, phù hợp với chủ trương và chính sách của Chính phủ Lào trong việc hướng tới một nền kinh tế xanh, tuần hoàn và bền vững, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng và giá trị gia tăng của mối quan hệ kinh tế song phương.
Với những kết quả ban đầu hết sức tích cực, tôi cho rằng các mô hình đầu tư trên sẽ góp phần định hình, dẫn dắt và lan tỏa, tiến tới áp dụng triển khai rộng khắp trên đất nước Lào.
Cùng với đầu tư, hoạt động thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Lào cũng ghi nhận bước phát triển ấn tượng. Giai đoạn 2020-2024, kim ngạch thương mại hai nước đạt mức tăng trưởng bình quân 9,7%/năm. Năm 2024 đạt 2,25 tỷ USD, tăng 38,2% so với năm 2023 (lần đầu tiên kim ngạch thương mại hai nước ghi nhận vượt mốc 2 tỷ USD). Riêng 10 tháng đầu năm 2025 đạt khoảng 2,5 tỷ USD, tăng 50,4% so với cùng kỳ năm 2024.
Đây là mức tăng trưởng ấn tượng, thể hiện sức bật của hợp tác thương mại song phương và sự phục hồi mạnh mẽ của chuỗi cung ứng giữa hai nước và khu vực. Trên cơ sở đó, mục tiêu kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 5 tỷ USD trong một vài năm tới và 10 tỷ USD vào năm 2030 là có cơ sở.
Nhìn chung, những kết quả đạt được đó đang tạo tiền đề vững chắc để quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam-Lào tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững. Với quyết tâm chính trị của lãnh đạo hai Đảng, hai nước, cùng nỗ lực, sự năng động và sáng tạo của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, tôi cho rằng hợp tác kinh tế nói chung và hợp tác giữa các doanh nghiệp hai nước Việt Nam và Lào nói riêng sẽ ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần thực chất vào phát triển kinh tế-xã hội của cả hai quốc gia, từ đó vun đắp mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt giữa Việt Nam và Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.
Phóng viên: Xin Đại sứ cho biết việc thúc đẩy hội nhập, kết nối hai nền kinh tế Việt Nam-Lào có vai trò, ý nghĩa như thế nào đối với việc củng cố, phát triển mối quan hệ giữa hai nước?
Đại sứ Nguyễn Minh Tâm: Việt Nam và Lào có chung đường biên giới dài hơn 2.337km, đi qua địa giới hành chính của 10 tỉnh, thành phố của Lào và 9 tỉnh, thành phố của Việt Nam. Các địa bàn này nằm trên các hành lang kinh tế Đông-Tây, có tiềm năng phát triển và đóng vai trò cửa ngõ thông thương giữa hai nước với ASEAN và thế giới; thúc đẩy kết nối kinh tế tại các khu vực này giúp khai thác tối đa lợi thế vị trí, mở rộng giao thương, nâng cao sinh kế, cải thiện đời sống người dân, đồng thời thúc đẩy phát triển nông thôn miền núi và kinh tế-xã hội vùng biên giới.
Trong những năm qua, để tăng kim ngạch thương mại song phương, hai bên đã triển khai nhiều giải pháp, trong đó đã ký kết Hiệp định Thương mại song phương (3/3/2015; sửa đổi, ký mới 8/4/2024), Hiệp định Thương mại biên giới (27/6/2015) và gần đây nhất là Hiệp định về mua bán than và điện Việt Nam-Lào (9/1/2025); phối hợp tổ chức nhiều hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối doanh nghiệp, các hội chợ, tọa đàm và chương trình giao thương giữa Việt Nam và Lào tạo cơ hội cho doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm, thương thảo hợp đồng và mở rộng hệ thống phân phối.
Bên cạnh đó, các bộ, ngành liên quan cũng ký mới hoặc sửa đổi hiệp định hỗ trợ tăng kim ngạch thương mại. Những văn bản pháp lý này tạo thuận lợi thiết thực cho doanh nghiệp hai nước trao đổi hàng hóa, thúc đẩy thương mại song phương và thương mại biên giới ngày càng phát triển.
Kết nối hạ tầng giao thông đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong thúc đẩy tạo đột phá trong hợp tác kinh tế hai nước. Trong thời gian qua, lãnh đạo cấp cao hai nước đã chỉ đạo triển khai các dự án chiến lược như đường cao tốc Hà Nội-Vientiane, các tuyến đường dọc hành lang kinh tế Đông-Tây và các tuyến nối cửa khẩu trọng điểm. Những dự án này hoàn thành sẽ giúp rút ngắn thời gian vận tải, giảm chi phí logistics, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường, đồng thời tạo điều kiện cho các cụm công nghiệp, khu kinh tế dọc tuyến, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển hoạt động logistics.
Hơn nữa, với tiềm năng kinh tế biển, Việt Nam còn hỗ trợ Lào kết nối ra biển thông qua hợp tác phát triển bến cảng số 1, 2, 3 của cảng Vũng Áng, giúp Lào tiếp cận nhanh thị trường ASEAN và toàn cầu, biến Lào từ “một nước không giáp biển” thành “một quốc gia kết nối”.
Cùng với kết nối hạ tầng giao thông, kết nối ngân hàng-tài chính có vai trò quan trọng trong thúc đẩy kết nối kinh tế và cần phải đi trước một bước.
Ngày 9/1/2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Trung ương Lào công bố Khuôn khổ thanh toán bản tệ Việt Nam-Lào và dịch vụ kết nối thanh toán bán lẻ song phương bằng mã QR, cho phép doanh nghiệp và cá nhân sử dụng đồng nội tệ (VND/LAK) để thanh toán hàng hóa, dịch vụ, chuyển tiền, đầu tư mà không cần ngoại tệ trung gian. Việc thực hiện thanh toán bản tệ giúp giảm chi phí chuyển đổi ngoại tệ, giảm rủi ro tỷ giá, tạo thuận lợi cho thương mại, đầu tư và giao thương biên giới, góp phần sâu sắc vào kết nối kinh tế-tài chính giữa hai nước.

Cảng Vũng Áng (Hà Tĩnh), con đường ra biển ngắn nhất của nước bạn Lào. (Ảnh: Báo Nhân Dân)
Ngoài các lĩnh vực trên, các cơ quan trung ương và địa phương hai nước đang tích cực đẩy mạnh kết nối các lĩnh vực quan trọng khác như kết nối năng lượng, dịch vụ, du lịch, kết nối số-chuyển đổi số, giáo dục-lao động, thể chế-chính sách…
Có thể khẳng định rằng, việc thúc đẩy hội nhập và kết nối kinh tế giữa Việt Nam và Lào không chỉ mang lại lợi ích thiết thực về phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần người dân mà còn là trụ cột chiến lược củng cố, nâng tầm và làm bền vững mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước; góp phần xây dựng sự ổn định, hòa bình, hữu nghị và cùng phát triển trong khu vực.
Phóng viên: Xin Đại sứ cho biết những giải pháp nhằm kết nối hai nền kinh tế trong thời gian tới?
Đại sứ Nguyễn Minh Tâm: Trong giai đoạn mới, cả Việt Nam và Lào đều thể hiện quyết tâm chính trị rất cao trong việc đưa hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và phát triển hạ tầng trở thành một trụ cột gắn kết chiến lược của quan hệ đặc biệt giữa hai nước. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, tôi cho rằng hai bên cần phối hợp tập trung thực hiện thật tốt hai nhóm giải pháp lớn: kết nối về thể chế-chính sách và kết nối về hạ tầng-logistics.
Thứ nhất, về kết nối thể chế và cơ chế chính sách, trước hết, hai bên cần tiếp tục hoàn thiện và nâng cấp khuôn khổ pháp lý. Việc rà soát, bổ sung và giám sát thực thi các thỏa thuận, hiệp định đã ký kết sẽ giúp tạo nền tảng ổn định, minh bạch và đồng bộ cho doanh nghiệp. Hai nước cũng đang xúc tiến Hiệp định hợp tác kinh tế xuyên biên giới Việt Nam-Lào, nhằm hình thành hành lang pháp lý hiện đại, hỗ trợ thương mại-đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển chuỗi liên kết sản xuất-tiêu thụ.
Một giải pháp quan trọng khác là tăng cường điều phối ở cấp Chính phủ. Việc thành lập Ban Chỉ đạo kết nối kinh tế Việt Nam-Lào sẽ giúp thống nhất chỉ đạo, kịp thời xử lý các rào cản và thúc đẩy tiến độ các dự án chiến lược. Cùng với đó, hai bên sẽ đẩy nhanh đổi mới cơ chế viện trợ theo hướng “chiều sâu-hiệu quả-tiêu chí rõ ràng”, bảo đảm các dự án hợp tác mang tính bền vững.
Về cải cách thủ tục, cần tăng cường phân cấp cho các tỉnh biên giới, đơn giản hóa thủ tục xuất nhập khẩu, hải quan, kiểm soát hàng hóa và xuất nhập cảnh, nhằm tạo thuận lợi tối đa cho thương mại qua biên giới. Hai nước cũng đang phối hợp xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành trong cấp phép và triển khai dự án đầu tư, đồng thời thành lập Tổ công tác hỗn hợp về đầu tư-thương mại để tháo gỡ vướng mắc cho các dự án lớn.
Bên cạnh đó, kết nối tài chính-ngân hàng đóng vai trò then chốt đối với liên kết kinh tế. Hai nước đang tích cực triển khai mô hình ACCD để thúc đẩy sử dụng bản tệ VND/LAK, mở rộng thanh toán mã QR xuyên biên giới, thiết lập cơ chế tín dụng linh hoạt (vay VND-trả LAK và ngược lại), đồng thời phát triển hạ tầng tài chính số, fintech và kết nối hệ thống thanh toán quốc gia với ASEAN. Điều này sẽ thúc đẩy thương mại, du lịch, đầu tư và tăng tính an toàn của dòng vốn.
Thứ hai, về kết nối hạ tầng và logistics, về hạ tầng, ưu tiên quan trọng nhất là đẩy nhanh các dự án chiến lược có tính chất “đột phá không gian phát triển”. Trọng tâm gồm: đường cao tốc Hà Nội-Vientiane dự kiến hoàn thành trong tương lai là mong mỏi của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước nhằm kết nối chiến lược miền bắc và Bắc Trung Bộ của Việt Nam với Lào, thúc đẩy kinh tế-xã hội, thương mại biên giới, du lịch, logistics, tăng cường kết nối quốc tế.
Dự án đường sắt Vientiane-Vũng Áng là trục kết nối động lực, tạo hành lang xuất nhập khẩu trực tiếp cho Lào ra biển, đồng thời kết nối Việt Nam-Lào với khu vực một cách bền vững.
Về cảng biển và hệ thống logistics: Việc đưa bến cảng số 3 của cảng Vũng Áng vào vận hành là bước ngoặt quan trọng, góp phần hiện thực hóa chiến lược “đưa Lào ra biển”. Hai nước cũng sẽ nâng cấp năng lực logistics tại Vũng Áng, Hòn La, Xuân Hải, Mỹ Thủy, đồng thời phát triển các khu logistics, kho ngoại quan dọc hành lang kinh tế Đông-Tây.
Về kết nối năng lượng và công nghiệp: Hai bên thống nhất thúc đẩy nhanh các dự án truyền tải điện từ Bắc Lào về Việt Nam, hợp tác mua bán điện-than…; đồng thời, nghiên cứu, ưu tiên triển khai các khu công nghiệp Việt Nam-Lào, các khu kinh tế cửa khẩu và trung tâm dịch vụ logistics.
Về kết nối du lịch và kinh tế số: Mở rộng hành lang du lịch chung, xây dựng nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới, phát triển dịch vụ số, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao… nhằm tạo giá trị gia tăng và lan tỏa phát triển.
Với quyết tâm chính trị cao và hướng tiếp cận đồng bộ giữa thể chế-chính sách và hạ tầng-logistics, Việt Nam và Lào hoàn toàn có cơ sở để tạo ra bước đột phá chiến lược trong việc kết nối hai nền kinh tế. Điều này không chỉ hỗ trợ mục tiêu thương mại song phương 5 tỷ USD trong một vài năm tới và 10 tỷ USD vào năm 2030, mà quan trọng hơn là góp phần hình thành một không gian phát triển chung, ổn định, bền vững và tương xứng với quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào trong giai đoạn mới.




























