Sơn mài Nguyễn Thị Quế: Thanh khiết mà lộng lẫy
Trong giới mỹ thuật Thủ đô, hội họa sơn mài Nguyễn Thị Quế từ lâu đã được nhìn nhận với giá trị thẩm mỹ tinh tế, kỹ thuật thâm sâu và vị thế nghề nghiệp đáng trân trọng. Những gì bà thể hiện trong tác phẩm cho thấy sự nghiêm cẩn và tình yêu bền bỉ của bà với nghệ thuật, với sơn mài truyền thống.
1.Thế giới tranh của họa sĩ Nguyễn Thị Quế tập trung hai mảng đề tài, tĩnh vật và chân dung phụ nữ, trẻ em. Bà không chủ trương đưa tác phẩm vào những vấn đề thời sự hay tìm kiếm cách tân hình thức mà chọn lối đi vẽ những thứ thân thuộc, giản dị quanh mình. Tất nhiên, để đạt được sự tĩnh lặng, giản dị mà tinh tế chứ không hề tẻ nhạt ấy cũng không đơn giản. Sau nhiều vật lộn tìm kiếm, loay hoay đổi mới, bà nhớ lời của họa sĩ Lý Trực Sơn, bà chỉ hợp vẽ những gì gần gụi, thân thuộc, đó là con đường.

Lời nhắc nhở ấy khiến bà hiểu rằng, hội họa là những gì chân thành nhất, đi ra từ đời sống và trái tim người nghệ sĩ. Vì thế, 30 tác phẩm trong triển lãm “Sơn mài Nguyễn Thị Quế” cho thấy sự nhất quán trong quan điểm sáng tác, sự bền bỉ của chiều sâu nghệ thuật. Đó là những bức tranh tĩnh vật có sự kết hợp có chủ ý giữa hoa truyền thống Việt và đồ gốm cổ các thời Lý - Trần tạo nên lớp đối thoại tinh tế giữa mỹ cảm tạo hình và chiều sâu văn hóa, lịch sử. Không gian tranh của bà được tối giản hóa, chỉ có những mảng màu và hoa, con người. Nó loại bỏ những rườm rà để hình và sắc tồn tại trong sự tĩnh tại, gần như là thiền định. Chính sự tối giản này làm nổi bật vẻ đẹp nội tại của chất liệu sơn ta và nhịp điệu chậm rãi của hội họa truyền thống.
Ở mảng chân dung và sinh hoạt, bà không đi vào tả thực đời sống mà nghiêng về biểu đạt cảm xúc lắng sâu. Nhân vật thường hiện diện trong trạng thái trầm tĩnh, ít chuyển động, gợi cảm giác bình an, gắn bó mật thiết với thiên nhiên và không gian sống. Ở đó, con người không tách khỏi cảnh vật mà hòa vào một chỉnh thể hài hòa, mang tính biểu tượng. Bà nói, đó là kết quả của những chuyến đi công tác miền núi, bà yêu màu bảng lảng sương khói của vùng cao, yêu cả tiếng khèn của người Mông. Vì thế, trong tác phẩm của bà có cả nhịp điệu của âm thanh, của những tiếng khèn gọi bạn vang vọng khắp núi rừng, hay cái màu lam bảng lảng của Sa Pa trong sương… Mỗi tác phẩm bà muốn kể một câu chuyện mà ở đó, sơn mài truyền thống trở thành phương tiện biểu đạt tối ưu cảm xúc và chiều sâu tâm tưởng của người nghệ sĩ. Sự tương phản của tĩnh và động, cũ và tươi nguyên trong tranh của Nguyễn Thị Quế khiến cho người xem rung động. Hóa ra cái đẹp của sự thật vẫn luôn hiện hữu, trong những hình hài vốn bình dị, thân quen.
Theo đánh giá từ giới chuyên môn, triển lãm "Sơn mài Nguyễn Thị Quế" không phải là sự xuất hiện muộn màng mà là một cuộc gặp gỡ cần thiết giữa công chúng và một giá trị đã được tích lũy âm thầm. Sự xuất hiện của những tác phẩm sơn mài thuần khiết, chắt lọc và giàu chiều sâu nghề nghiệp như của Nguyễn Thị Quế cho thấy sức sống bền bỉ của mỹ thuật truyền thống, đủ phẩm chất để kiêu hãnh cùng thời gian.

Tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Thị Quế
Họa sĩ, nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Quân nhận định: "Ở hàng cao của họa pháp sơn mài, trên hàng đầu của thể loại tĩnh vật ở Việt Nam, Nguyễn Thị Quế là một trường hợp đặc biệt. 40 năm chuyên canh sơn mài - tĩnh vật với nhịp độ khoan thai, từ tốn, kiên trì và tinh kỹ đến khó tính đã không sản sinh nhiều tranh, nhưng lại tạo nên nhiều tác phẩm xuất chúng". Theo họa sĩ Nguyễn Quân, tranh của Nguyễn Thị Quế không tìm kiếm sự mới mẻ hay bứt phá học thuật. Những đồ vật quen thuộc, những loài hoa thân gần được đặt trong những mặt phẳng sâu thẳm, lãng đãng, bất định một cách kiên quyết. Ở đó không có sự duyên dáng dễ thương hay nữ tính mặc định, mà là một sức sống thẩm mỹ ân cần, sâu sắc, bao dung và thanh cao hiếm có.

Với nhà nghiên cứu Vũ Huy Thông, những tác phẩm của họa sĩ nổi bật bởi sự nhấn mạnh tính tiếp nối với truyền thống xử lý chất liệu sơn mài trong hội họa của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1925 - 1945). Ông nói: "Chân dung các bà mẹ, em nhỏ vùng cao, các bình gốm Lý, Trần cắm hoa sen, hoa chuối, mẫu đơn, hoa cau, dù biến đổi qua mọi sắc thái nhưng luôn có sức sống riêng tồn tại trong vẻ đẹp của chính nó, phi thời gian, trong một không gian ước lệ, thăm thẳm - một vẻ đẹp tinh túy 50 năm kết tinh thực hành của họa sĩ Nguyễn Thị Quế".
2. Họa sĩ Nguyễn Thị Quế sinh năm 1952 tại Ái Mộ (Gia Lâm, Hà Nội). Bà bắt đầu học mỹ thuật ngay từ hồi còn nhỏ, kéo dài từ hệ sơ trung cấp của trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam cho đến Đại học Mỹ thuật Việt Nam, 12 năm theo học mỹ thuật trước khi trở thành họa sĩ. Suốt hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề, từ giảng dạy mỹ thuật tại Trường Nghệ thuật Tây Bắc, Cung Thiếu nhi Hà Nội, Đại học Mở, đến thời gian công tác tại Công ty Mỹ thuật Quốc gia và cả khi đã nghỉ hưu, sơn mài luôn là lựa chọn nhất quán và xuyên suốt trong đời sống sáng tác của bà. Dù có những lúc bổn phận của người phụ nữ trong gia đình và bối cảnh kinh tế khó khăn khiến bà phải dừng lại… Bà đã tham gia nhiều triển lãm nhóm, triển lãm sơn mài Toàn quốc, ra nước ngoài giới thiệu về sơn mài Việt Nam…
Dù khiêm nhường và kín tiếng, nhưng tên tuổi của họa sĩ Nguyễn Thị Quế đã được giới thiệu trong sách “Tác giả tác phẩm hội họa điêu khắc nữ nghệ sĩ Việt Nam thế kỷ XX”, 2003, NXB Văn hóa Thông tin, “Nữ nghệ sĩ tạo hình Việt Nam” (NXB Mỹ thuật, 2023) và “2016 Fuzhou International Lacquer Art Biennial” (Triển lãm Lưỡng niên nghệ thuật sơn mài quốc tế tại Phúc Châu”, NXB China Renmin University Press, 2016)…
Bà yêu sơn mài từ cái nhìn đầu tiên, yêu và hiểu nó như máu thịt. Vì thế, trong thời đại công nghiệp, mọi thứ vội vàng, bà vẫn bình tĩnh, chậm rãi đi con đường của mình. Bà nói đùa, bà bị sơn mài “bỏ bùa” bởi phải yêu lắm mới đủ sự nhẫn nại để theo đuổi. Nhưng cũng chính từ sự công phu, vất vả ấy đã mang đến cho bà những tìm tòi bất ngờ, thú vị. Thực hành nghệ thuật nghiêm cẩn, tỉ mỉ của bà đã góp phần đẩy tinh thần làm nghề - nghề sơn ta truyền thống - lên mức tinh túy. Vì thế, không gian tranh của họa sĩ Nguyễn Thị Quế mang hồn cốt Việt không chỉ bởi bà vẽ hoa sen, người dân tộc, hoa mẫu đơn, bởi những bình gốm cổ đời Lý, Trần mà bởi tinh thần hội họa thuần khiết thấm đẫm trong từng tác phẩm. Nó đến một cách tự nhiên, giản dị như đời sống đang diễn ra.
Họa sĩ Nguyễn Thị Quế, tự nhận mình chỉ “be bé” thôi. Nhưng là cái “be bé” có bản sắc riêng, câu chuyện riêng, dù bà sống bên cạnh một “ông lớn” - người chồng nổi tiếng của bà, họa sĩ Lý Trực Sơn. Tôi hỏi bà, ở cạnh ông bà có bị áp lực. Bà cười: “Tôi được trợ lực trong sáng tạo bởi ông là người kỹ tĩnh và nghiêm cẩn với nghề. Tôi không bị áp lực mà học hỏi được từ ông nhiều giá trị”. Trong giới làm nghề nể trọng họ, vì ở gần nhau mà hội họa của họ không giống nhau. Trong khi hội họa của Lý Trực Sơn phản ánh những vấn đề lớn của đời sống thì bà lại vẽ những điều bé nhỏ, giản dị quanh mình. Chính họa sĩ Lý Trực Sơn nhìn thấu con đường ấy của vợ và dành cho bà những lời khuyên giá trị. Ông trân trọng tài năng của vợ mình: "Sự liên thông giữa tác giả và đối tượng làm cho tranh tĩnh vật của chị có một vẻ ân cần, kín đáo và tĩnh mịch bình an, với tính thẩm mỹ cao". Nhận xét ấy đúng với tác phẩm, cũng toát lên rõ nét tính cách của người nghệ sĩ - một phụ nữ truyền thống, khiêm nhường.
Mỗi buổi sáng, trong ngôi nhà vườn yên tĩnh ở Long Biên, bà pha một ấm trà để bắt đầu ngày mới bằng câu chuyện nghệ thuật trong và ngoài nước. Rồi ông lên đường sang xưởng vẽ ở Đông Anh, bà lại trở về với thế giới bé mọn của mình… Dường như cái không khí bình đẳng và đầy tôn trọng ấy của gia đình đã làm cho nghệ thuật của bà đẹp hơn, tinh khiết hơn.



























