Siết kỷ luật thực thi, tạo đột phá trong chuyển đổi số

Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp chuyên đề về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị không chỉ phản ánh những hạn chế cần khắc phục, quan trọng hơn, đã nhận diện đúng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay: năng lực tổ chức thực hiện và trách nhiệm đến cùng của từng cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu.

Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, chuyển đổi số trong hệ thống chính trị đã tạo nhiều chuyển biến tích cực, từng bước hình thành nền tảng quan trọng để đổi mới phương thức lãnh đạo, quản trị và phục vụ người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, ba nghịch lý được chỉ ra trong Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ phản ánh những hạn chế cần khắc phục, mà quan trọng hơn, đã nhận diện đúng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay: năng lực tổ chức thực hiện và trách nhiệm đến cùng của từng cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu.

Những kết quả quan trọng và yêu cầu nhìn thẳng vào điểm nghẽn

Một trong những giá trị lớn nhất sau hơn một năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ nằm ở những kết quả bước đầu đạt được, mà còn ở việc chuyển đổi số trong hệ thống chính trị đã hình thành được nền tảng để bước sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu. Khi những điều kiện cơ bản về nhận thức, thể chế, hạ tầng và dữ liệu đã từng bước được thiết lập, yêu cầu đặt ra không còn dừng ở việc xây dựng hệ thống, mà phải tạo ra hiệu quả thực chất từ chính những nền tảng đó.

Chuyển đổi số trong hệ thống chính trị đã có những chuyển biến tích cực, khá toàn diện. (Ảnh: Đăng Anh/nhandan.vn)

Chuyển đổi số trong hệ thống chính trị đã có những chuyển biến tích cực, khá toàn diện. (Ảnh: Đăng Anh/nhandan.vn)

Thực tiễn triển khai cho thấy công tác chuyển đổi số trong hệ thống chính trị đã có những chuyển biến tích cực, khá toàn diện. Nhận thức về chuyển đổi số ngày càng đầy đủ hơn; thể chế, chính sách từng bước được hoàn thiện; một số luật quan trọng về dữ liệu, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo được ban hành. Nhiều nền tảng số, cơ sở dữ liệu quan trọng đã được hình thành, đưa vào khai thác; việc gửi, nhận văn bản điện tử, xử lý hồ sơ công việc, họp trực tuyến, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, khai thác dữ liệu dân cư và định danh điện tử ngày càng đi vào thực chất. Công tác bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thông tin và dữ liệu cũng được quan tâm hơn.

Những kết quả đó không chỉ phản ánh nỗ lực của các cơ quan Trung ương và địa phương, mà quan trọng hơn, đã góp phần bảo đảm hoạt động thông suốt của hệ thống chính trị, phục vụ vận hành mô hình tổ chức mới và chính quyền 3 cấp. Chuyển đổi số đang từng bước tham gia trực tiếp vào quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và điều hành, thay vì chỉ dừng ở việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các quy trình sẵn có.

Chuyển đổi số đang từng bước tham gia trực tiếp vào quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và điều hành, thay vì chỉ dừng ở việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các quy trình sẵn có.

Có thể nói, những nền tảng quan trọng cho chuyển đổi số trong hệ thống chính trị đã được hình thành. Nhận thức đã có bước chuyển; thể chế đang được hoàn thiện; hạ tầng, nền tảng và dữ liệu được quan tâm đầu tư; một số mô hình, cách làm hiệu quả đã được thực tiễn kiểm chứng, có thể tiếp tục hoàn thiện và nhân rộng.

Tuy nhiên, khi nền tảng đã được tạo lập, thước đo cũng phải thay đổi. Không thể tiếp tục đánh giá chuyển đổi số chủ yếu qua số lượng văn bản đã ban hành, hệ thống đã xây dựng hay nhiệm vụ đã triển khai. Điều cần được đo lường là hệ thống có vận hành hiệu quả hay không; dữ liệu có được kết nối, chia sẻ và khai thác hay chưa; người dân, doanh nghiệp được hưởng lợi như thế nào; năng suất lao động và hiệu quả quản trị đã được nâng lên ra sao.

Chính vì vậy, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ về Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Phiên họp chuyên đề về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị đã thẳng thắn chỉ rõ: “Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế và điểm nghẽn cần khẩn trương khắc phục”.

Nhận định này không chỉ phản ánh khách quan tiến độ thực hiện, mà còn đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận: từ chú trọng xây dựng nền tảng sang tạo ra giá trị từ nền tảng; từ đánh giá nỗ lực sang đánh giá kết quả; từ báo cáo đã triển khai những gì sang chứng minh đã tạo ra sản phẩm và hiệu quả thực tế như thế nào.

Nói cách khác, chuyển đổi số đã đi qua giai đoạn chủ yếu đặt nền móng. Thước đo của giai đoạn tiếp theo không còn là những gì đã đầu tư, mà là những giá trị thực sự được tạo ra từ những nền tảng đó.

Ba nghịch lý cùng chỉ về một điểm nghẽn

Điểm đáng chú ý trong Kết luận là những hạn chế không được nhìn nhận như các hiện tượng riêng lẻ, mà được khái quát thành ba nghịch lý lớn. Ba biểu hiện khác nhau nhưng cùng phản ánh một vấn đề cốt lõi: những điều kiện đã được tạo lập chưa được chuyển hóa đầy đủ thành kết quả thực tế.

Nghịch lý thứ nhất là nguồn lực dành cho chuyển đổi số còn hạn chế, nhưng nguồn lực đã được bố trí lại chưa được sử dụng hiệu quả. Tỷ lệ giải ngân mới đạt hơn 12,2%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chung của cả nước, trong khi nhiều cơ quan, địa phương, nhất là cấp xã, vẫn thiếu thiết bị đầu cuối, hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu.

Một bên là nhu cầu cấp thiết, một bên là vốn chưa được đưa vào sử dụng. Điều đó cho thấy thiếu nguồn lực không phải là lời giải thích đầy đủ cho tiến độ chậm. Vấn đề còn nằm ở năng lực chuẩn bị, tổ chức triển khai và chịu trách nhiệm về tiến độ. Nếu nguồn lực không được chuyển hóa thành hạ tầng, dữ liệu và sản phẩm cụ thể thì việc tiếp tục tăng đầu tư cũng khó tạo ra hiệu quả tương xứng.

Nghịch lý thứ hai là đã đầu tư nhiều hệ thống, nền tảng và cơ sở dữ liệu nhưng mức độ liên thông, chia sẻ và khai thác dữ liệu chưa tương xứng. Ở nhiều nơi, cán bộ, công chức vẫn phải thao tác trên nhiều phần mềm, nhập lại cùng một loại thông tin và xử lý những quy trình trùng lặp. Công nghệ vốn phải giúp giảm tải công việc, nhưng trong một số trường hợp lại làm phát sinh thêm thao tác và áp lực.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng: Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không còn ở nhận thức, chủ trương hay việc bố trí nguồn lực mà ở năng lực tổ chức thực hiện và trách nhiệm đến cùng của từng cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng: Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không còn ở nhận thức, chủ trương hay việc bố trí nguồn lực mà ở năng lực tổ chức thực hiện và trách nhiệm đến cùng của từng cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu.

Thực trạng này phản ánh cách tiếp cận còn phân tán, chú trọng xây dựng từng hệ thống riêng lẻ nhưng chưa coi trọng đúng mức việc tái cấu trúc quy trình, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu. Giá trị của hệ thống số không nằm ở số lượng nền tảng được xây dựng, mà ở khả năng liên thông và tái sử dụng dữ liệu. Nếu đầu tư vẫn theo hướng riêng lẻ, thiếu chuẩn hóa thì càng nhiều hệ thống càng có nguy cơ làm gia tăng sự chia cắt.

Nghịch lý thứ ba là quyết tâm chính trị rất lớn nhưng kết quả triển khai ở nhiều nơi chưa tương xứng, còn hình thức, đối phó, thiếu chuyển biến thực chất. Trong cùng điều kiện về thể chế, chính sách, có cơ quan, địa phương thực hiện tốt, trong khi một số nơi vẫn chậm trễ và chủ yếu viện dẫn khó khăn, vướng mắc. Đáng chú ý, tỷ lệ thực hiện dịch vụ công trực tuyến, số hóa hồ sơ và tái sử dụng dữ liệu ở nhiều địa phương lại cao hơn một số bộ, ngành Trung ương.

Sự khác biệt ấy cho thấy kết quả không hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện khách quan. Trong cùng một khuôn khổ thể chế, nơi làm tốt và nơi làm chậm khác nhau trước hết ở năng lực chỉ đạo, phương pháp tổ chức công việc, tinh thần chủ động và trách nhiệm của người đứng đầu. Việc một số bộ, ngành trung ương triển khai chậm hơn địa phương cũng đặt ra yêu cầu phải phát huy đầy đủ hơn vai trò dẫn dắt, kiến tạo thể chế, chuẩn hóa dữ liệu, quy trình và nền tảng dùng chung.

Từ ba nghịch lý đó, Kết luận đưa ra nhận định có ý nghĩa định hướng rất rõ: “Ba nghịch lý trên cho thấy điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không còn ở nhận thức, chủ trương hay việc bố trí nguồn lực mà ở năng lực tổ chức thực hiện và trách nhiệm đến cùng của từng cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu”.

Đây là sự chuyển trọng tâm quan trọng trong tư duy chỉ đạo. Khi nhận thức đã được nâng lên, chủ trương đã rõ, thể chế từng bước hoàn thiện và nguồn lực đã được bố trí thì yêu cầu đặt ra là phải xác định rõ ai chịu trách nhiệm, sản phẩm là gì, khi nào hoàn thành và hiệu quả được đo lường như thế nào.

Ba nghịch lý khác nhau nhưng cùng dẫn đến một kết luận: điều cần tháo gỡ lúc này không còn chủ yếu là “điểm nghẽn của chính sách”, mà là “điểm nghẽn của thực thi”. Khi nguyên nhân đã được nhận diện đúng, hướng xử lý cũng trở nên rõ ràng hơn.

Siết kỷ luật thực thi, quy trách nhiệm đến cùng

Khi điểm nghẽn đã được nhận diện đúng, giải pháp cũng phải thay đổi tương ứng. Nếu trước đây trọng tâm là hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng và xây dựng nền tảng, thì giai đoạn hiện nay đòi hỏi phải chuyển mạnh sang nâng cao năng lực tổ chức thực hiện. Nói cách khác, chuyển đổi số không còn thiếu quyết tâm, mà cần nhiều hơn một cơ chế thực thi đủ chặt chẽ để mọi chủ trương đều được hiện thực hóa bằng kết quả cụ thể.

Không phải ngẫu nhiên mà Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ xác định yêu cầu trọng tâm trong thời gian tới là "phải siết chặt kỷ luật thực thi, xác định rõ trách nhiệm, đánh giá theo sản phẩm đầu ra và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu". Đây không chỉ là giải pháp đối với chuyển đổi số, mà còn phản ánh yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và điều hành trong toàn hệ thống chính trị.

Điểm mới đáng chú ý là trọng tâm chỉ đạo đã chuyển từ quản lý quá trình sang quản trị kết quả. Các cơ quan không chỉ được giao nhiệm vụ, mà còn phải "rà soát từng nhiệm vụ, xác định rõ trách nhiệm, sản phẩm và thời hạn hoàn thành; chịu trách nhiệm đến cùng về tiến độ, chất lượng; không để tình trạng chậm trễ, kéo dài qua nhiều tháng, nhiều quý". Điều đó đồng nghĩa với việc mỗi nhiệm vụ đều phải có người chịu trách nhiệm cuối cùng, có sản phẩm cụ thể và có thể kiểm chứng bằng kết quả thực tế.

Trong quản trị hiện đại, điều quan trọng không phải đã tổ chức bao nhiêu cuộc họp, ban hành bao nhiêu văn bản hay triển khai bao nhiêu hệ thống, mà là những việc đó đã tạo ra giá trị gì. Chính vì vậy, Kết luận nhấn mạnh: "Nhiệm vụ chỉ được xác định hoàn thành khi có sản phẩm cụ thể, vận hành được, có dữ liệu kiểm chứng, có đối tượng sử dụng và tạo ra hiệu quả thực chất".

Nhiệm vụ chỉ được xác định hoàn thành khi có sản phẩm cụ thể, vận hành được, có dữ liệu kiểm chứng, có đối tượng sử dụng và tạo ra hiệu quả thực chất.

Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ

Thông điệp này đã xác lập một thước đo mới cho chuyển đổi số. Một hệ thống thông tin được nghiệm thu nhưng ít được khai thác chưa thể coi là thành công; một cơ sở dữ liệu được xây dựng nhưng không kết nối, không chia sẻ thì chưa phát huy giá trị; một dịch vụ công trực tuyến nhưng người dân vẫn phải nộp lại hồ sơ giấy hoặc kê khai những thông tin Nhà nước đã có thì mục tiêu chuyển đổi số vẫn chưa đạt được.

Đánh giá theo sản phẩm đầu ra vì thế không chỉ là yêu cầu về phương pháp quản lý, mà còn là cơ chế khắc phục bệnh hình thức. Khi kết quả được lượng hóa bằng sản phẩm, dữ liệu và hiệu quả sử dụng, việc đánh giá cán bộ, tập thể sẽ khách quan hơn, đồng thời hạn chế tình trạng hoàn thành nhiệm vụ trên báo cáo nhưng chưa tạo ra chuyển biến trong thực tiễn.

Đi cùng với đó là yêu cầu đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Chuyển đổi số không phải là công việc riêng của cơ quan chuyên trách công nghệ thông tin, mà là quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo, quản trị và tổ chức thực hiện. Nếu người đứng đầu không trực tiếp chỉ đạo, không trực tiếp kiểm tra và không chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng thì chuyển đổi số rất dễ bị thu hẹp thành đầu tư thiết bị hoặc số hóa một số quy trình nghiệp vụ.

Ngược lại, khi người đứng đầu thực sự coi chuyển đổi số là nhiệm vụ chính trị của cơ quan mình, chủ động tháo gỡ khó khăn, gương mẫu sử dụng các nền tảng số và đánh giá công việc bằng kết quả cụ thể, chuyển đổi số mới có thể tạo ra thay đổi về chất trong phương thức quản trị.

Suy cho cùng, kỷ luật thực thi chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi trách nhiệm không dừng ở việc "được giao", mà được theo dõi đến cùng bằng sản phẩm và kết quả. Đó cũng là điều kiện để chuyển đổi số thoát khỏi nguy cơ hình thức, trở thành động lực đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và điều hành trong toàn hệ thống chính trị.

Lấy dữ liệu, liên thông và hiệu quả phục vụ làm đột phá

Nếu việc siết chặt kỷ luật thực thi là giải pháp để khơi thông điểm nghẽn, thì nhóm nhiệm vụ được xác định trong Kết luận lại cho thấy hướng tạo đột phá trong giai đoạn tới. Trọng tâm không phải là đầu tư thêm thật nhiều hệ thống, mà là tập trung vào những yếu tố tạo ra giá trị lớn nhất: dữ liệu, nền tảng dùng chung và hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Trước hết là yêu cầu xử lý dứt điểm các nhiệm vụ quá hạn, văn bản còn nợ đọng và những điểm nghẽn đã được xác định thông qua Kế hoạch hành động 100 ngày. Đây không chỉ là một mốc thời gian, mà còn thể hiện quyết tâm chuyển từ xử lý kéo dài sang giải quyết dứt điểm, có thời hạn, có kiểm đếm và có người chịu trách nhiệm. Việc tổ chức thực hiện phải bảo đảm "Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả". Sáu yêu cầu này chính là nền tảng của một cơ chế quản trị hiện đại, trong đó mọi nhiệm vụ đều được theo dõi, đo lường và quy trách nhiệm cụ thể.

Muốn chuyển đổi số tạo ra đột phá thì dữ liệu phải trở thành nguồn lực của quản trị, chứ không chỉ là kết quả của số hóa. (Ảnh minh họa/nhandan.vn)

Muốn chuyển đổi số tạo ra đột phá thì dữ liệu phải trở thành nguồn lực của quản trị, chứ không chỉ là kết quả của số hóa. (Ảnh minh họa/nhandan.vn)

Muốn chuyển đổi số tạo ra đột phá thì dữ liệu phải trở thành nguồn lực của quản trị, chứ không chỉ là kết quả của số hóa. Chính vì vậy, Thông báo xác định dữ liệu là tài nguyên chiến lược, phải được quản trị theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung". Đặc biệt, việc xây dựng, cập nhật, làm sạch và quản trị dữ liệu được yêu cầu là "trách nhiệm chính trị của mình, không phải là nhiệm vụ riêng của cơ quan chuyên trách công nghệ thông tin".

Quan điểm này cho thấy một bước chuyển quan trọng trong tư duy quản trị. Dữ liệu chỉ thực sự có giá trị khi từng bộ, ngành, địa phương chịu trách nhiệm về chất lượng dữ liệu thuộc lĩnh vực mình quản lý và coi đó là một phần của nhiệm vụ chính trị. Đồng thời, việc ưu tiên hạ tầng và nền tảng dùng chung, hạn chế đầu tư riêng lẻ, trùng lặp sẽ trực tiếp khắc phục tình trạng phân mảnh, thiếu liên thông - một trong ba nghịch lý lớn đã được chỉ ra.

Một nền hành chính số cũng không thể tiếp tục vận hành theo cách người dân phải nhiều lần cung cấp cùng một loại thông tin cho nhiều cơ quan khác nhau. Chính vì vậy, Kết luận đặt ra nguyên tắc rất rõ: đối với những thông tin, dữ liệu đã có trong các cơ sở dữ liệu và có thể khai thác, tái sử dụng thì "không yêu cầu người dân, doanh nghiệp kê khai, cung cấp lại". Đồng thời, chất lượng dịch vụ công trực tuyến phải được đánh giá bằng mức độ sử dụng thực tế, sự thuận tiện và thời gian, chi phí được tiết giảm, chứ không chỉ bằng số lượng thủ tục được đưa lên môi trường số.

Chuyển đổi số phải chuyển từ "làm nhiều" sang "làm hiệu quả", từ "đầu tư hệ thống" sang "tạo giá trị", từ "quản lý quá trình" sang "quản trị kết quả".

Đó là sự chuyển đổi từ tư duy "cung cấp dịch vụ" sang tư duy "tạo giá trị", lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm của quá trình chuyển đổi số. Mọi nền tảng, mọi cơ sở dữ liệu hay ứng dụng công nghệ, kể cả trí tuệ nhân tạo, cuối cùng đều phải hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng quản trị và phục vụ xã hội tốt hơn. Công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng chỉ là công cụ; yếu tố quyết định vẫn là con người và năng lực tổ chức thực hiện.

Ba nghịch lý được chỉ ra không nhằm nhấn mạnh nhiều hơn những hạn chế, mà để xác định rõ yêu cầu của giai đoạn phát triển tiếp theo. Chuyển đổi số phải chuyển từ "làm nhiều" sang "làm hiệu quả", từ "đầu tư hệ thống" sang "tạo giá trị", từ "quản lý quá trình" sang "quản trị kết quả". Khi mỗi nhiệm vụ đều có sản phẩm, mỗi dữ liệu đều được khai thác, mỗi nền tảng đều phục vụ người dân tốt hơn và mỗi người đứng đầu đều chịu trách nhiệm đến cùng, chuyển đổi số mới thực sự trở thành động lực đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia và mở ra không gian phát triển mới cho đất nước.

THU HÀ-HỒNG PHƯỢNG

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/siet-ky-luat-thuc-thi-tao-dot-pha-trong-chuyen-doi-so-post975663.html