Sau ly hôn, nên giao con cho ai nuôi?
Khi một cuộc hôn nhân đổ vỡ, người ta thường tranh cãi xem ai có điều kiện kinh tế hơn để nuôi con. Nhưng đằng sau những phán quyết ấy, có những nguy cơ tiềm ẩn mà ít người ngờ tới. Vụ việc bé gái 11 tuổi ở TP Đồng Nai bị “cha dượng” bạo hành dã man trước sự im lặng của mẹ ruột khiến nhiều người phải giật mình chất vấn: Chúng ta thực sự đang bảo vệ con, hay chỉ đang giải quyết thủ tục ly hôn?

Hình ảnh bé gái 11 tuổi ở TP Đồng Nai bị “cha dượng” bạo hành dưới sự chứng kiến của mẹ ruột. Ảnh cắt từ clip
Định kiến xã hội và những tiêu chí xét xử đôi khi đã bỏ quên môi trường tinh thần thực tế của đứa trẻ. Những câu hỏi tưởng chừng đã có lời giải, nay cần được lật lại bằng một góc nhìn trách nhiệm hơn, nhân văn hơn từ chính sự an toàn của các em.
Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Thương mại Luật gia Việt Nam:
Thiếu cơ chế hậu kiểm để bảo vệ trẻ
Nhiều người lầm tưởng pháp luật thiên vị quyền nuôi con cho người mẹ. Thực tế, quy định ưu tiên giao con dưới 36 tháng tuổi cho mẹ theo Luật Hôn nhân và Gia đình là cơ chế bảo vệ đặc biệt dựa trên nhu cầu sinh học, chứ không phải định kiến pháp lý.

Luật sư Nguyễn Văn Hậu
Với trẻ từ 36 tháng trở lên, Tòa án luôn xem xét toàn diện theo Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-5-2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đặt trọng tâm vào quyền lợi về mọi mặt của trẻ. Người cha hoàn toàn có quyền nuôi con nếu chứng minh được điều kiện tốt hơn về tài chính, môi trường sống an toàn, thái độ của bạn đời mới và việc tạo điều kiện cho trẻ duy trì tình cảm với người còn lại.
Tuy nhiên, bất cập lớn nhất hiện nay là thiếu cơ chế giám sát hậu kiểm định kỳ từ cơ quan chức năng, khiến can thiệp chỉ diễn ra khi sự việc đã rồi. Bên cạnh đó, tình trạng cản trở quyền thăm nom không chỉ vi phạm quan hệ tình cảm giữa trẻ với cha/mẹ, mà còn là mầm mống che giấu các nguy cơ bạo hành.
Để khắc phục, cần tăng mức phạt hành chính đối với hành vi ngăn cản thăm nom nhằm tăng tính răn đe, đồng thời bổ sung chế tài xem xét tước quyền trực tiếp nuôi dưỡng nếu vi phạm kéo dài. Đặc biệt, mọi dấu hiệu bạo lực, xâm hại phải được xem là căn cứ để áp dụng biện pháp bảo vệ khẩn cấp và xử lý hình sự.
Về bản chất, pháp luật hướng đến cơ chế “đồng nuôi dưỡng” gồm người trực tiếp nuôi và người chu cấp, thăm nom. Vấn đề cốt lõi cần giải quyết là xây dựng ngay cơ chế giám sát, đánh giá định kỳ bởi các cơ quan chuyên môn về bảo vệ trẻ em, kịp thời phản ứng trước các nguy cơ xung đột, không để xảy ra những hậu quả thương tâm.
Luật sư Nguyễn Hoàng Trung Hiếu, Trưởng Văn phòng luật sư Hiếu và Cộng sự, Chi hội phó Chi hội Luật sư - Hội Bảo vệ Quyền Trẻ em TPHCM:
Phải thay đổi tư duy “giao con cho ai”
Trong các tranh chấp quyền nuôi con, điều đáng lo là đứa trẻ vô tình trở thành “công cụ” trả đũa. Nhiều người cố chứng minh điều kiện vật chất vượt trội, kê khống thu nhập, đưa trẻ đi nơi khác hoặc tiêm nhiễm tâm lý nói xấu, bắt con chọn cha/mẹ. Sau ly hôn, tình trạng cản trở thăm nom diễn ra phổ biến khiến người không trực tiếp nuôi con mất đi vai trò là “kênh giám sát tự nhiên” đối với sự an toàn của trẻ, nhất là khi sống cùng cha dượng hoặc mẹ kế.

Luật sư Nguyễn Hoàng Trung Hiếu
Từ thực trạng này, cần thay đổi căn bản tư duy pháp lý: chuyển dịch từ câu hỏi “quyền nuôi con thuộc về ai” sang “trách nhiệm cùng làm cha mẹ sau ly hôn”. Tòa án không nên chỉ nhìn vào tài chính hay ép trẻ lựa chọn, mà phải đánh giá xem ở với ai trẻ thực sự an toàn và được duy trì quan hệ lành mạnh với cả hai bên.
Bất cập lớn hiện nay là thiếu cơ chế bảo vệ sớm. Khi phát hiện dấu hiệu bất thường, phụ huynh thường lúng túng thu thập chứng cứ, trong khi hàng xóm, giáo viên lại ngần ngại vì “chuyện gia đình”. Do đó, cần tận dụng mô hình một cửa tại các bệnh viện lớn (Hùng Vương, Nhi đồng 1, Nhi đồng Thành phố, Chấn thương Chỉnh hình) qua tổng đài 1900 54 55 59 để phối hợp liên ngành kịp thời.
Hệ thống bảo vệ trẻ em phải đủ nhạy để ngăn chặn bi kịch từ giai đoạn đầu. Cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp cốt lõi: ban hành lệnh bảo vệ khẩn cấp tạm tách trẻ khỏi môi trường nguy hiểm; dùng chuyên gia đánh giá tâm lý thay vì chỉ xét thu nhập; xử lý nghiêm hành vi cản trở thăm nom để làm căn cứ xem xét lại quyền nuôi con; xây dựng cơ chế báo động sớm giữa nhà trường, y tế, cộng đồng; và chuyển dịch tư duy pháp lý từ “quyền nuôi con thuộc về ai” sang “trách nhiệm cùng làm cha mẹ sau ly hôn”.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Anh, giảng viên Khoa Công tác xã hội - Nhân học - Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TPHCM:
“Đồng nuôi dưỡng” sau ly hôn
Để trả lời câu hỏi “sau ly hôn giao con cho ai”, cần nhìn lại sự phân công từ trước: mẹ lo chăm sóc hàng ngày, cha làm trụ cột kinh tế. Khi ly hôn, sự phân công này kéo theo việc mẹ gánh thêm áp lực tinh thần và thời gian, trong khi cha dễ dần lỏng lẻo mối quan hệ. Vấn đề cốt lõi là xã hội thường chỉ hỏi con theo ai và cấp dưỡng bao nhiêu, mà quên mất cách hai người tiếp tục làm cha mẹ. Quan hệ vợ chồng có thể kết thúc, nhưng trách nhiệm làm cha mẹ thì không.

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Anh
Việt Nam có thể học từ châu Âu tư duy “đồng nuôi dưỡng”, không nhất thiết là chia thời gian 50/50 mà là một kế hoạch cụ thể: ai đón con ngày lễ, khi trẻ ốm ai chịu trách nhiệm, việc học hành quyết định ra sao để tránh xung đột. Cần tách bạch xung đột vợ chồng khỏi trách nhiệm nuôi dạy con; đồng thời không đánh giá năng lực chăm sóc chỉ qua tiền bạc, nhà cửa hay vị thế xã hội.
Mô hình như Thụy Điển duy trì trách nhiệm chung và có dịch vụ xã hội hỗ trợ khi có tranh chấp. Tuy nhiên, đồng nuôi dưỡng không thể áp dụng cứng nhắc. Nếu có bạo lực, bỏ bê hay nguy cơ gây hại, việc ép chia thời gian sẽ làm tăng rủi ro. Dù thế nào, quyền của cha mẹ rất quan trọng, nhưng sự an toàn và lợi ích tối cao của đứa trẻ phải luôn đứng trước.
Ông Ngô Minh Uy, chuyên viên tham vấn tâm lý, Trung tâm Tâm lý Chuyên nghiệp WELink, TPHCM:
Để trẻ không phải chọn lựa giữa cha và mẹ
Dưới góc độ tâm lý, câu hỏi quan trọng sau ly hôn không phải “giao con cho ai”, mà là môi trường nào đảm bảo tốt nhất sự an toàn và phát triển lành mạnh của trẻ. Vật chất cần thiết nhưng không thể thay thế sự gắn kết tình cảm và cảm giác an toàn.

Ông Ngô Minh Uy
Tổn thương lớn nhất không đến từ việc cha mẹ không sống chung, mà khi trẻ bị đẩy vào xung đột, buộc phải chọn một bên hoặc mất đi mối quan hệ có ý nghĩa. Do đó, cần duy trì cho trẻ quan hệ ổn định với cả hai, nhất là khi có gia đình tái hợp. Cha mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng phải luôn hiện diện để nhận biết các dấu hiệu bất thường như trẻ sợ về nhà, thu mình, sa sút học tập hay có thương tích, từ đó tạo không gian an toàn để lắng nghe.
Khi lấy ý kiến trẻ từ 7 tuổi trở lên, không nên xem câu trả lời là “lá phiếu” vì trẻ dễ chịu áp lực từ người lớn. Cần thấu hiểu lý do, trải nghiệm và tính tự nhiên đằng sau lời kể của các em.
Sau cùng, người lớn có thể chấm dứt quan hệ vợ chồng, nhưng không bao giờ được phép cắt đứt trách nhiệm làm cha mẹ. Một cuộc ly hôn văn minh sẽ không để đứa trẻ phải mất đi ai hay bị tước đoạt quyền được yêu thương trọn vẹn.

