Sáng mãi phẩm chất người lính

Trên mảnh đất Bắc Ninh giàu truyền thống cách mạng, nhiều người con ưu tú đã lên đường ra trận. Với phẩm chất anh dũng, kiên cường, họ đã góp phần làm nên chiến thắng, giành độc lập dân tộc. Trở về với đời thường, những người lính năm xưa trở thành điểm tựa cho gia đình, lan tỏa giá trị tốt đẹp trong cộng đồng.

Nhớ mãi những mùa chiến dịch

Năm 1953, chàng thanh niên Nguyễn Văn Bao (sinh năm 1932) ở thôn Phù Cầm, xã Yên Trung vào quân ngũ. Là lính của Trung đoàn 151, ông tham gia các khóa huấn luyện về chính trị, quân sự, binh khí, kỹ thuật. Nhận lệnh cấp trên, đơn vị của ông khẩn trương hành quân lên Tây Bắc, chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ.

 Cựu chiến binh Nguyễn Văn Bao bên những kỷ vật thời chiến.

Cựu chiến binh Nguyễn Văn Bao bên những kỷ vật thời chiến.

Khi tới Điện Biên, Trung đoàn 151 sáp nhập với Đại đoàn Pháo binh 351. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị làm đường kéo pháo, đưa pháo vào trận địa, phối hợp đào giao thông hào… nhằm phối hợp, hỗ trợ lực lượng trực tiếp tham gia chiến đấu. Đồi A1 được xem là “chìa khóa” để tạo nên bước ngoặt của Chiến dịch.

"Những người có công, thương binh, bệnh binh của tỉnh không chỉ anh dũng trong chiến đấu mà còn là những tấm gương tiêu biểu trong thời bình. Chính họ đã lan tỏa tinh thần tự lực, tự cường, góp phần bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước cho thế hệ sau" - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Nguyễn Đức Thuận.

Đơn vị công binh của ông Nguyễn Văn Bao được giao nhiệm vụ đào một đường hầm sâu hơn 40 m phía nửa đồi quân ta chiếm được để đưa khối thuốc nổ gần 1.000 kg vào đó. Đêm mùng 6/5/1954, khối thuốc nổ được châm ngòi, làm rung chuyển trận địa, mở "cánh cửa" quan trọng cho các đơn vị xung phong đánh chiếm đồi A1, giành chiến thắng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ…

Năm 1964, ông Nguyễn Văn Bao hành quân vào mặt trận phía Nam. Ông Bao nhớ lại: "Sau một thời gian được cử sang nước bạn huấn luyện, đến năm 1964, tôi cùng đơn vị hành quân vào chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên, đường 9 - Nam Lào. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tôi là Chủ nhiệm kỹ thuật của Trung đoàn 10, Sư đoàn 471. Đơn vị được giao nhiệm vụ đưa 2 tiểu đoàn từ Tây Nguyên tiến về Sài Gòn bổ sung lực lượng tham gia Chiến dịch".

Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, ông Nguyễn Văn Bao về công tác tại một số đơn vị quân đội ở Bắc Ninh. Năm 1979, ông tiếp tục lên đường ra biên giới chiến đấu. Đến năm 1984, hoàn thành nhiệm vụ về địa phương, ông tích cực tham gia công tác xã hội. Ở vị trí nào ông cũng phát huy tinh thần của người lính Cụ Hồ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Với lối sống giản dị, khiêm nhường, ông luôn là tấm gương cho con cháu học tập, noi theo.

Hai vợ chồng cùng "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước"

Ông Phạm Hồng Cầu (sinh năm 1949) ở số 155 Lý Thường Kiệt, tổ dân phố Thị Cầu, phường Vũ Ninh là một trong 8 cá nhân tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh được tuyên dương tại chương trình “Gặp mặt người có công, nhân chứng lịch sử” năm 2025. Nhập ngũ năm 1967, là lính quân y, ông từng trải qua những ngày tháng vừa chiến đấu, vừa giành giật sự sống cho đồng đội giữa mưa bom, bão đạn tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972.

 Ông Phạm Hồng Cầu (áo trắng, đeo đồng hồ) cùng đồng đội trong thời gian tham gia chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị.

Ông Phạm Hồng Cầu (áo trắng, đeo đồng hồ) cùng đồng đội trong thời gian tham gia chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị.

Năm 1975, ông cùng đồng đội tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau ngày đất nước thống nhất, ông chuyển ngành về Sở Y tế đường sắt thuộc Tổng cục đường sắt (cũ) công tác đến năm 1993 nghỉ hưu. Nhưng với ông, nghỉ hưu không có nghĩa là dừng lại. Từ năm 1995 đến nay, ông đảm nhiệm vai trò Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh tổ dân phố Đáp Cầu 6, luôn gương mẫu, trách nhiệm, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

Đồng hành cùng ông là bà Nguyễn Thị Thế - người vợ, người đồng đội năm xưa trên tuyến lửa. Trải qua những năm tháng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, phá rừng, mở đường, đối mặt với bom đạn, bà đã trở thành người chiến sĩ kiên cường.

Đi qua chiến tranh, chứng kiến bao mất mát, hy sinh, ông bà luôn dặn dò con cháu sống có trách nhiệm, biết trân trọng những gì đang có. Chính từ nền tảng ấy, gia đình ông bà trở thành một hình mẫu tiêu biểu. Bốn người con đều trưởng thành, công tác tại các sở, ngành, cơ quan Nhà nước. Các cháu ông ngoan ngoãn, học giỏi. Gia đình ông được bà con khu phố quý mến, nể trọng.

Tự hào người lính mở đường

Tháng 9/1965, ông Nguyễn Tiến Miều (sinh năm 1948), ở tổ dân phố Liễn Hạ, phường Nhân Hòa nhập ngũ và có hơn một năm huấn luyện chuyên ngành trinh sát, tập đánh địch ở địa hình rừng núi tại thành phố Hải Phòng và tỉnh Ninh Bình.

 Cựu chiến binh Nguyễn Tiến Miều vẫn hằng ngày theo dõi, cập nhật tin tức trên báo chí.

Cựu chiến binh Nguyễn Tiến Miều vẫn hằng ngày theo dõi, cập nhật tin tức trên báo chí.

Đến tháng 2/1966, ông được biên chế vào Trung đoàn 4, Sư đoàn 470, Binh đoàn Trường Sơn (nay là Binh đoàn 16). Chẵn một thập kỷ (1965-1975), người lính Nguyễn Tiến Miều đã cùng đồng đội tham gia nhiệm vụ bảo vệ, mở đường Trường Sơn - con đường huyền thoại góp phần quan trọng vào chiến thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Cựu chiến binh Nguyễn Tiến Miều bồi hồi nhớ lại: "Ngày 4/3/1975, quân ta mở đầu cuộc tiến công chiến lược bằng Chiến dịch Tây Nguyên, đơn vị chúng tôi được giao nhiệm vụ đóng cầu Sêrêpôk bằng thuyền gỗ ghép lại (cầu bắc qua sông Sêrêpôk) để phục vụ đi lại và vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực thực phẩm vào chiến trường. Chúng tôi được chia thành nhiều tổ: Tổ vào rừng chặt cây gỗ dầu để xẻ ván đóng thuyền và lấy nhựa dầu để xảm thuyền (trét kín các tấm gỗ để ngăn nước ngấm vào và bảo vệ thuyền); tổ đi thu gom phế phẩm bom mìn để rèn đanh đóng thuyền... Công tác thi công gặp muôn vàn khó khăn song với quyết tâm tất cả cho chiến dịch, đơn vị đã đóng 24 chiếc thuyền (mỗi chiếc có chiều rộng 1,5 m, chiều dài 4,5 m) trong vòng 48 ngày, kịp thời phục vụ kháng chiến...".

Ghi nhận những đóng góp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông Nguyễn Tiến Miều được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Giải phóng hạng Nhất; Chiến sĩ Quyết thắng; Huy hiệu Xuân Mậu Thân 1968 và Đại thắng mùa Xuân năm 1975...

Trải qua các cuộc kháng chiến, Bắc Ninh có hàng nghìn người con ưu tú lên đường ra trận, chịu nhiều hy sinh và mất mát. Theo thống kê của Phòng Người có công (Sở Nội vụ), toàn tỉnh hiện quản lý hơn 284,8 nghìn hồ sơ người có công; trong đó có hơn 37,2 nghìn liệt sĩ, hơn 37,8 nghìn thương binh, bệnh binh, hơn 2,9 nghìn Mẹ Việt Nam Anh hùng. Hiện tại, hơn 40 nghìn người có công và thân nhân đang hưởng trợ cấp hằng tháng.

Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Nguyễn Đức Thuận cho biết: “Những người có công, thương binh, bệnh binh của tỉnh không chỉ anh dũng trong chiến đấu mà còn là những tấm gương tiêu biểu trong thời bình. Chính họ đã lan tỏa tinh thần tự lực, tự cường, góp phần bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước cho thế hệ sau”.

Xuân Me - Ngọc Anh

Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/sang-mai-pham-chat-nguoi-linh-postid444144.bbg