Sách giáo khoa điện tử: Cần lộ trình phù hợp
Bộ GD&ĐT đang lấy ý kiến cho dự thảo thông tư quy định tiêu chuẩn, quy trình chuyển thể và tổ chức thẩm định sách giáo khoa điện tử từ bản in, được xem là bước tiến quan trọng trong chuyển đổi số giáo dục nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề cần cân nhắc kỹ lưỡng.

SGK truyền thống đang sử dụng tại 100% các trường học công lập ở Việt Nam. Ảnh: Trọng Quân
Theo dự thảo, điều kiện tiên quyết của sách giáo khoa điện tử là phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn hiện hành của sách giáo khoa in. Nội dung sách giáo khoa điện tử phải bảo đảm đúng với nội dung sách giáo khoa bản in, không được sai lệch dưới bất kỳ hình thức nào.
Định dạng số của sách giáo khoa điện tử tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện hành, hỗ trợ đa nền tảng như máy tính, điện thoại, máy đọc sách. Các sản phẩm này cũng phải đáp ứng đầy đủ các quy định về bản quyền, quyền sở hữu trí tuệ, quy chuẩn bảo mật và lưu chiểu theo quy định của pháp luật.
Dự thảo cũng nêu rõ giao diện sách giáo khoa điện tử phải hiển thị tối ưu trên các thiết bị khác nhau, đồng thời phù hợp với sức khỏe, thị giác của học sinh các cấp học về phông chữ, cỡ chữ, màu sắc, hiệu ứng hình ảnh và âm thanh. Định dạng tệp tin phải tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xuất bản phẩm điện tử, phù hợp với chuẩn mở quốc tế hoặc các định dạng phổ biến, bảo đảm khả năng tương thích đa nền tảng và hỗ trợ truy cập cho người khuyết tật.
Một trong những nội dung nhận được nhiều ý kiến đóng góp nhất là quy định về thực nghiệm kỹ thuật và đánh giá trải nghiệm người dùng. Ban đầu, dự thảo yêu cầu số tiết thực nghiệm tối thiểu bằng 10% tổng số tiết của mỗi môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông.
Qua quá trình lấy ý kiến từ 26 trên 34 sở GD&ĐT cùng đại diện các bộ, ngành liên quan, nhiều đề xuất đã được đưa ra. Có địa phương đề nghị giảm tỷ lệ này xuống còn 5% để phù hợp với thời gian thí điểm, trong khi một số nơi lại đề xuất nâng lên 15% và tập trung vào các tiết học có tính tương tác phức tạp.
Một số ý kiến khác đề nghị cần linh hoạt theo từng môn học, làm rõ hình thức tổ chức thực nghiệm có thể là trực tuyến, trực tiếp hay kết hợp, đồng thời xác định rõ đối tượng tham gia và tiêu chí đánh giá cụ thể.
Tiếp thu các ý kiến này, ban soạn thảo đã điều chỉnh quy trình thực nghiệm theo hướng phân tầng cụ thể hơn. Theo đó, việc thực nghiệm được phối hợp với các cơ sở giáo dục phổ thông, tổ chức đánh giá trên các nhóm học sinh, giáo viên đại diện cho các vùng miền khác nhau.
Báo cáo kết quả thực nghiệm phải bao gồm các chỉ số về độ trễ, lỗi kỹ thuật và mức độ thuận tiện trong thao tác, tính hiệu quả đối với các dạng bài. Số tiết thực nghiệm được quy định theo ba mức: ít nhất 5% tổng số tiết đối với môn học, hoạt động giáo dục có từ 105 tiết mỗi năm học trở lên; ít nhất 10% đối với môn có từ 70 tiết đến dưới 105 tiết mỗi năm học; và ít nhất 15% đối với các môn, hoạt động giáo dục còn lại.
Về tính năng công nghệ, Sở GD&ĐT Cần Thơ đã kiến nghị bổ sung chức năng theo dõi tiến độ học tập, quy định mức tối thiểu bắt buộc như bài tập tương tác và theo dõi tiến độ, trong khi các tính năng như trí tuệ nhân tạo hay thực tế ảo nên để ở dạng tùy chọn.
Sở cũng đề nghị quy định dung lượng tối ưu và giới hạn dung lượng tối đa cho từng đơn vị bài học. Tuy nhiên, Bộ GD&ĐT cho rằng việc theo dõi tiến độ học tập của tất cả học sinh sử dụng sách giáo khoa điện tử là tính năng rất khó thực hiện, thể hiện mức độ cá nhân hóa cao và nên do giáo viên đảm nhiệm trong quá trình tổ chức dạy học.
Về dung lượng, Bộ nhận định nếu quy định cứng sẽ gây khó khăn cho các đơn vị chuyển thể và hạn chế cách thể hiện nội dung.
Liên quan đến lo ngại về sức khỏe học sinh khi sử dụng sách giáo khoa điện tử, nhiều ý kiến đề nghị bổ sung các quy định kỹ thuật cụ thể như phải có chế độ hiển thị bảo vệ mắt và tính năng cảnh báo thời gian sử dụng liên tục quá 45 phút. Các tiêu chuẩn cũng cần tuân thủ khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới và Bộ Y tế về thời lượng tiếp xúc màn hình. Ngoài ra, cần yêu cầu tối giản giao diện, giảm hiệu ứng hình ảnh để tránh gây nhiễu thị giác cho học sinh.
Về vấn đề hạ tầng và bảo mật, nhiều sở GD&ĐT như Cần Thơ, Cà Mau, Khánh Hòa, Quảng Ninh, Thanh Hóa và TPHCM đề xuất quy định rõ việc không thu thập dữ liệu cá nhân của học sinh tiểu học ngoài các dữ liệu thống kê chung như số lần truy cập và thời gian học. Các sở cũng yêu cầu không hiển thị quảng cáo hoặc nội dung không liên quan trên sách giáo khoa điện tử.
Bộ GD&ĐT khẳng định dự thảo đã quy định tuân thủ đầy đủ Luật Xuất bản, Luật An ninh mạng, Luật Công nghiệp Công nghệ số và các quy định về bảo mật, quyền riêng tư dữ liệu cá nhân. Bộ cũng giải thích rằng số lần truy cập và thời gian học xuất phát từ nhu cầu tổ chức hoạt động học của học sinh và giáo viên, không phát sinh thêm khi học sinh học tập. Trước mắt, sách giáo khoa điện tử chưa quản lý dữ liệu học tập cá nhân và được coi như một nguồn học liệu.
Nhiều sở GD&ĐT cũng đề nghị bổ sung nguyên tắc về đảm bảo tính sư phạm, phù hợp với tâm lý học sinh từng cấp học, tránh quá tải về hiệu ứng hình ảnh và âm thanh. Ban soạn thảo đã tiếp thu và chỉnh sửa quy định theo hướng phông chữ, cỡ chữ, màu sắc, hiệu ứng hình ảnh và âm thanh phải phù hợp với sức khỏe tâm sinh lý học sinh các cấp học.
Theo đó, hình ảnh, âm thanh, video trong sách giáo khoa điện tử được thiết kế và sử dụng như giải pháp sư phạm, góp phần đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, tăng tính trải nghiệm trong học tập và phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
Theo PGS.TS Bùi Mạnh Hùng, Tổng chủ biên sách giáo khoa Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, sách giáo khoa điện tử có nhiều ưu điểm như tính tương tác cao và thuận tiện trong việc tích hợp học liệu đa phương tiện. Tuy nhiên, hạn chế cũng không ít, từ hạ tầng, thiết bị đến nguy cơ lệ thuộc vào màn hình. Ông nhận định ngay cả ở các nước phát triển cũng chưa có quốc gia nào thay thế hoàn toàn sách giáo khoa in bằng sách giáo khoa điện tử.
Do đó, trong tương lai gần, sách giáo khoa điện tử khó có thể thay thế hoàn toàn sách giáo khoa in, mà nên được xem là một cấu phần bổ trợ trong hệ sinh thái học liệu số của giáo dục phổ thông. Trở ngại lớn nhất là vấn đề thiết bị và những bất cập khi cho trẻ em tiếp xúc với thiết bị công nghệ quá sớm, ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển tự nhiên của các em.
































