Sắc chàm Lóng Luông
Màu chàm ẩn hiện dọc con đường vào Lóng Luông, phủ lên miền sơn cước gam màu bình yên tưởng chỉ còn trong cổ tích. Giữa nền trời và những dãy núi nối nhau tận chân mây, sắc chàm như khẳng định vùng đất từng là điểm nóng về ma túy, nay thực sự sang chương mới. Những nương lanh, những dây phơi vải nhuộm trước hiên nhà và tiếng cười của phụ nữ H'mông đã thay cho ký ức u ám một thời nhiều biến động.
Lóng Luông nằm dưới chân Pha Luông - ngọn núi từng đi vào thi ca với những câu thơ của Quang Dũng: “dốc thăm thẳm”, “súng ngửi trời”, “mưa xa khơi”…, từng gợi trong tôi hình dung về miền biên viễn hun hút, hiểm trở.
Từ quốc lộ 6 rẽ vào, Pha Luông vẫn đứng đó, sừng sững cuối trời, nhưng Lóng Luông hôm nay không còn là miền đất khiến người ta dè chừng. Không còn nỗi lo của những cung đường ma túy năm nào, bản làng giờ thành điểm đến của người muốn tìm hiểu văn hóa H’mông, muốn nghe tiếng khung cửi, ngắm sắc chàm và chạm vào nghề thủ công được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Lóng Luông có hơn 90% dân số là người H’mông. Qua giới thiệu, tôi tìm đến nhà Sùng Y Si, cô gái H’mông sinh năm 1992 đang tiếp nối nghề nhuộm chàm truyền thống của gia đình, nổi tiếng với kỹ thuật vẽ sáp ong trên vải lanh. Ngay từ sân nhà, những tấm vải lanh lớn nhỏ đã phủ kín dây phơi. Trên nền xanh chàm, vô vàn hoa văn hiện lên như những mảnh ký ức núi rừng. Mỗi tấm vải là một thế giới riêng, nơi những đường nét giản dị lại cất giữ cả đời sống tinh thần phong phú.

Đường vào Lóng Luông ngập sắc nhuộm chàm của bà con H’mông bản địa.
Để có được tấm vải ấy là hành trình dài bắt đầu từ nương lanh. Mùa xuân, người H’mông gieo hạt. Đầu hạ, cây lanh được thu hoạch, cắt đoạn, hong khô, tách vỏ, đem luộc nhiều lần cùng tro bếp đến khi trắng dần, sau đó đem xe sợi và dệt thành vải. Riêng việc tạo ra được tấm vải mộc đã là kết quả nhiều ngày lao động bền bỉ, hoàn toàn dựa vào đôi bàn tay người phụ nữ.
Nhưng với người H’mông, vải lanh chỉ thật sự có hồn khi gặp màu chàm. Người H’mông quan niệm, lanh và chàm đều mang ý nghĩa vượt lên giá trị chất liệu. Sợi lanh ví như con đường dẫn lối để linh hồn người đã khuất tìm về tổ tiên, còn sắc chàm tượng trưng cho sự sống, cho sức sinh sôi bất diệt của núi rừng.
Trong sắc chàm ấy, người ta không chỉ thấy một nghề thủ công, mà còn thấy sức sống một cộng đồng đang lặng lẽ gìn giữ nét văn hóa riêng mình giữa đại ngàn Tây Bắc.
Một chum chàm được tạo nên từ lá chàm cùng nhiều nguyên liệu khác như vôi, tro củi, bạch đậu khấu, rượu gạo... cho lên men để sinh ra “con chàm”. Người H’mông không xem đó đơn thuần là dung dịch nhuộm, mà như một sinh thể cần chăm sóc mỗi ngày. Người có kinh nghiệm chỉ cần nhìn màu nước, ngửi mùi hay nếm thử là biết “con chàm” đang khỏe hay yếu.
Nếu chum chàm khỏe, tấm vải nhuộm sẽ lên màu xanh sâu, bền. Ngược lại, nếu “con chàm” yếu, màu xỉn, nhợt hoặc tối sẫm, người H’mông gọi đó là chàm chết, vải lên màu chàm chết chỉ dành cho người âm, còn người sống mặc chàm sống để đón sinh khí đất trời.
Bên chiếc thùng phuy lớn đang sôi nghi ngút, Sùng Y Si cẩn thận tẩy lớp sáp ong trên những tấm vải nhuộm. Những mảng hoa văn trắng dần hiện ra trên nền chàm, như thể được đánh thức sau giấc ngủ dài. Y Si vừa làm vừa mỉm cười nói: “Phần dệt, nuôi chàm chỉ là một phần công đoạn, để tấm vải đẹp thêm thì mình phải vẽ cho nó”.

“Tác phẩm” do Sùng Y Si tự tay vẽ - nhuộm chàm, kể về dân tộc mình.
Công đoạn ấy đẩy nghề nhuộm chàm thủ công trở thành nghệ thuật. Chiếc bút vẽ bằng đồng nhỏ xíu nhúng sáp ong nóng rồi lướt trên mặt vải. Không có bản phác thảo, không khuôn mẫu cố định, Y Si vẽ bằng trí nhớ, bằng cảm nhận và bằng vốn văn hóa đã được truyền đời.
Nhìn những tấm vải trải kín hiên nhà, thấy ở đó là hệ ngôn ngữ tượng hình sống động. Có những đường kỷ hà nối tiếp nhau như ruộng bậc thang. Có hoa lá, cánh bướm, có hình người, chim muông và cả những biểu tượng siêu nhiên. Mọi thứ hòa vào sắc chàm, vừa mộc mạc, vừa huyền ảo, tạo nên vẻ đẹp thực sự cuốn hút.
Đang trò chuyện, cụ Giàng Thị Súa, nay đã ngoài chín mươi, ghé ngang. Cụ cầm từng tấm vải, đưa lên ngắm dưới ánh nắng rồi nhẹ nhàng vuốt những đường hoa văn. Một lúc sau, cụ mỉm cười, nhận định: “Tấm này nhuộm màu tốt, vẽ đều tay, đẹp lắm!”. Tôi hiểu lời khen giản dị ấy chính là sự thừa nhận của một thế hệ đã dành gần trọn đời mình cho sắc chàm.

Cụ Giàng Thị Súa thẩm định vẻ đẹp hoa văn trang trí trên sắc chàm Lóng Luông.
Y Si mang cho tôi xem tấm vải do chính cô sáng tạo. Trên nền chàm là những biểu tượng kể câu chuyện về dân tộc mình: chiếc vòng bạc tượng trưng cho người phụ nữ, cây khèn dành cho người đàn ông, cảnh lên nương, giã gạo, vui hội, mùa gặt... Tất cả hòa vào nhau thành một bức tranh đời sống. Không cần một dòng chữ nào, chỉ nhìn những nét sáp ong và màu chàm cũng đủ hình dung nhịp sống của một bản làng nơi lưng chừng núi.
Rời Lóng Luông, tôi mang về mấy tấm vải lanh của Sùng Y Si như một phần ký ức chuyến đi. Chỉ mới hơn chục năm trước, người ta nhắc đến nơi này bằng những đề tài tiêu cực. Hôm nay, điều ở lại trong tôi là màu chàm phơi trước hiên nhà, là đôi bàn tay xanh màu nhuộm, là nụ cười cô gái trẻ đang giữ nghề truyền thống và ánh mắt mãn nguyện của người bà khi thấy lớp con cháu tiếp tục nối dài sợi lanh của tổ tiên.
Cũng như con chàm phải sống bền bỉ qua thăng trầm mới đạt đến sắc xanh hoàn hảo, Lóng Luông cũng đã qua nhiều biến động để tìm lại bình yên. Trong sắc chàm ấy, người ta không chỉ thấy một nghề thủ công, mà còn thấy sức sống một cộng đồng đang lặng lẽ gìn giữ nét văn hóa riêng mình giữa đại ngàn Tây Bắc.
Bài và ảnh: Nguyễn Đình
