Quy định mới về xuất, nhập khẩu về mật mã dân sự

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 341/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng về hoạt động mật mã dân sự.

Nghị định số 341/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2026 áp dụng đối với: Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam và người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận căn cước; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động mật mã dân sự tại Việt Nam.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng về hoạt động mật mã dân sự. Ảnh: Báo Chính phủ

Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng về hoạt động mật mã dân sự. Ảnh: Báo Chính phủ

Bộ Quốc phòng quản lý về an ninh mạng đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; Bộ Công an quản lý về an ninh mạng đối với các đơn vị Quân đội có hoạt động dân sự, kinh tế theo thẩm quyền; đối với các nội dung giao thoa (nếu có), Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thống nhất quy chế phối hợp.

Mật mã dân sự phải được chứng nhận hợp quy trước khi lưu thông

Theo Nghị định, sản phẩm mật mã dân sự bao gồm sản phẩm phần cứng, phần mềm, tài liệu, trang thiết bị kỹ thuật và nghiệp vụ mật mã, được sử dụng để bảo vệ thông tin không thuộc phạm vi bí mật nhà nước.

Dịch vụ mật mã dân sự gồm dịch vụ bảo vệ thông tin sử dụng sản phẩm mật mã dân sự; đánh giá sản phẩm mật mã dân sự; tư vấn bảo mật, an ninh mạng sử dụng sản phẩm mật mã dân sự.

Doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự thuộc Danh mục sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự tại Phụ lục I kèm theo Nghị định phải có Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự.

Sản phẩm mật mã dân sự phải được kiểm tra, chứng nhận hợp quy trước khi lưu thông trên thị trường.

Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự có thời hạn 10 năm. Doanh nghiệp được cấp Giấy phép phải nộp phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.

Đối với sản phẩm lưỡng dụng có tính năng mật mã dân sự và tính năng an ninh mạng, Bộ Công an cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng. Trước khi cấp phép, Bộ Công an lấy ý kiến Ban Cơ yếu Chính phủ bằng văn bản về tính năng mật mã dân sự.

Quy định về xuất, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự

Cũng theo Nghị định, khi xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự thuộc Danh mục sản phẩm mật mã dân sự xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này, doanh nghiệp phải có Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự do Ban Cơ yêu Chính phủ cấp.

Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự có thời hạn 03 năm.

Áp dụng Danh mục sản phẩm mật mã dân sự xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép

Danh mục sản phẩm mật mã dân sự xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép chỉ áp dụng đối với các sản phẩm mật mã dân sự mà cả mã số HS, mô tả hàng hóa và mô tả đặc tính kỹ thuật mật mã trùng với mã số HS, mô tả hàng hóa và mô tả đặc tính kỹ thuật mật mã của hàng hóa thuộc Danh mục.

Trường hợp có sự khác biệt trong việc xác định mã số hàng hóa tại Danh mục ban hành kèm theo Nghị định này và Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, việc xác định mã số hàng hóa thực hiện theo quy định của pháp luật về hải quan.

Bộ Công an cấp Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng đối với sản phẩm lưỡng dụng có tính năng mật mã dân sự và tính năng an ninh mạng. Trước khi cấp phép, Bộ Công an lấy ý kiến Ban Cơ yếu Chính phủ bằng văn bản về tính năng mật mã dân sự. Các sản phẩm lưỡng dụng có tính năng mật mã dân sự phải đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về mật mã dân sự.

Lê An

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/quy-dinh-moi-ve-xuat-nhap-khau-ve-mat-ma-dan-su-471302.html