Quy định mới về chức vụ, hạn tuổi sĩ quan Quân đội
Luật mới sửa đổi quy định về chức vụ sĩ quan tại Bộ Chỉ huy Quân sự cấp tỉnh, Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã và hạn tuổi phục vụ của Chỉ huy trưởng cấp xã.
Nội dung trên được quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 9 luật về quân sự, quốc phòng được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất.
9 luật được sửa đổi, bổ sung gồm: Luật Quốc phòng; Luật Sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam; Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng; Luật Nghĩa vụ quân sự; Luật Biên phòng Việt Nam; Luật Phòng không nhân dân; Luật Lực lượng dự bị động viên; Luật Phòng thủ dân sự; Luật Dân quân tự vệ.

Khối Nữ sĩ quan gìn giữ hòa bình tại lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Quốc khánh.
Với Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, đã sửa quy định về chức vụ cán bộ của Chỉ huy Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh, Ban chỉ huy quân sự cấp xã; hạn tuổi phục vụ cao nhất của Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cấp xã; bổ nhiệm chức vụ trong các đơn vị dự bị động viên.
Theo đó, “Chỉ huy trưởng, Chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh” từ nhóm chức vụ cơ bản của sĩ quan cùng với “Sư đoàn trưởng, Chính ủy Sư đoàn” sang cùng nhóm với “Tư lệnh, Chính ủy: Binh chủng, Vùng Hải quân”.
“Phó Chỉ huy trưởng, Phó Chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh” từ nhóm chức vụ cơ bản của sĩ quan cùng với “Phó Sư đoàn trưởng, Phó Chính ủy Sư đoàn” sang cùng nhóm với “Phó Tư lệnh, Phó Chính ủy: Binh chủng, Vùng Hải quân”.
Chức danh thuộc Ban chỉ huy quân sự cấp xã vào nhóm chức vụ, chức danh của sĩ quan. Cụ thể, “Chỉ huy trưởng, Chính trị viên Ban chỉ huy quân sự cấp xã” được xếp cùng nhóm với “Tiểu đoàn trưởng, Chính trị viên tiểu đoàn”. “Phó Chỉ huy trưởng, Chính trị viên phó Ban chỉ huy quân sự cấp xã” vào nhóm chức vụ cơ bản của sĩ quan cùng với “Phó Tiểu đoàn trưởng, Chính trị viên phó Tiểu đoàn”.
Luật mới cũng quy định về hạn tuổi phục vụ cao nhất của Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cấp xã được tính vào chung hạn tuổi của sĩ quan dự bị theo cấp bậc quân hàm.
Theo đó, hạn tuổi cao nhất của sĩ quan dự bị theo cấp bậc quân hàm: Cấp úy 53 tuổi, Thiếu tá 55 tuổi, Trung tá 57 tuổi, Thượng tá 59 tuổi, Đại tá 61 tuổi, Cấp Tướng 63 tuổi.
Hạn tuổi cao nhất của sĩ quan dự bị theo cấp bậc quân hàm như sau: cấp úy 53, thiếu tá 55, trung tá 57, thượng tá 59, đại tá 61, cấp tướng 63 tuổi.
Tại báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật trình Quốc hội xem xét, thông qua, Chính phủ cho biết, một số ý kiến đề nghị tăng tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan ở tất cả các cấp để phù hợp với quy định của Bộ luật Lao động và phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay.
Về vấn đề này, Chính phủ cho rằng hạn tuổi phục vụ tại ngũ cao nhất của sĩ quan là một chính sách lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy tinh nhuệ, hiện đại.
Vì vậy cần được tính toán, đánh giá tác động kỹ lưỡng đối với các nội dung, như: đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; vấn đề dôi dư, ùn tắc giữa các cấp, chức; thu hút, trọng dụng nhân tài; sự phù hợp giữa quy định về hạn tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan với quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về bảo hiểm xã hội…
Tiếp thu vấn đề đại biểu Quốc hội nêu, Chính phủ sẽ nghiên cứu, đánh giá tác động và đề xuất cấp có thẩm quyền khi sửa đổi toàn diện Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
Với ý kiến băn khoăn không nên tăng hạn tuổi phục vụ của sĩ quan dự bị, Chính phủ cho biết Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay đang quy định hạn tuổi cao nhất của sĩ quan dự bị như sau: Cấp úy 53, Thiếu tá 55, Trung tá 57, Thượng tá 59, Đại tá 61, cấp Tướng 63 và không đề nghị tăng tại dự thảo Luật này.
Dự thảo luật bãi bỏ quy định về tuổi của Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động (Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã là công chức). Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã là sĩ quan nên hạn tuổi thực hiện theo quy định.
Có ý kiến đề nghị nghiên cứu quy định trần quân hàm sĩ quan của Chỉ huy trưởng, Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh (Chỉ huy trưởng hiện có trần quân hàm Thiếu tướng trong khi Chính ủy có trần quân hàm Đại tá) và quân hàm của Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã cho phù hợp.
Về vấn đề này, Chính phủ cho biết, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam không quy định cụ thể cấp bậc quân hàm cao nhất của sĩ quan từ cấp Trung tướng trở xuống mà giao Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết.
Chính phủ đã ban hành Nghị định 06/2025 quy định chức vụ, chức danh tương đương; chức vụ, chức danh có cấp bậc quân hàm cao nhất là Trung tướng, Phó đô đốc Hải quân, Thiếu tướng, Chuẩn Đô đốc Hải quân trong Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Bên cạnh đó, Bộ trưởng Quốc phòng đã ban hành Thông tư số 11/2025 quy định chức vụ, chức danh tương đương và chức vụ, chức danh có cấp bậc quân hàm cao nhất là cấp tá, cấp úy của sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam. Theo đó, cấp bậc quân hàm cao nhất của Chỉ huy trưởng, Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã đã được quy định cụ thể.
Chính phủ sẽ tiếp tục nghiên cứu đề xuất cấp có thẩm quyền khi sửa đổi 2 văn bản trên.
