Quê tôi, miền đất giữa hai Hiệp định

Cuộc chiến đẩy đưa số phận tôi và gia đình mình từ bên bờ sông Bến Hải đến bờ sông Thạch Hãn, với khoảng cách chỉ vài chục cây số. Cũng là hai con sông ghi dấu ấn đau thương và đậm nét suốt hơn 20 năm chiến tranh khốc liệt trên dải đất hình chữ S này.

MIỀN QUÊ BÊN BỜ BẾN HẢI

Năm 1965, gia đình tôi rời miền đất quê nhà Gio Linh đạn lửa, để vào sống ở thị xã Quảng Trị. Lớn thêm vài tuổi, mỗi năm ba tôi đều cho anh em tôi về quê để dự lễ giỗ chạp và tảo mộ tiền nhân. Đoạn đường thị xã Quảng Trị - Gio Linh chưa đầy 30 cây số, nhưng với thời ấy là một khoảng cách vời vợi.

Mỗi ngày chỉ có một chuyến xe đò, chạy bằng loại xe Renault cũ kỹ, nhưng có nhiều chuyến, do tình hình an ninh không cho phép nên xe chỉ chạy đến thị xã Đông Hà, cách Quảng Trị 14 cây số. Đoạn còn lại, ba tôi phải chở anh em tôi bằng chiếc xe đạp hơn chục cây số nữa mới đến quê nhà.

Gio Linh ngày ấy, nằm bên phía bờ Nam con sông Bến Hải, trong tiềm thức của tôi hầu như không ngày nào là không nghe tiếng pháo rền khắp chốn. Mỗi lúc như vậy, người lớn lại giục giã trẻ con chui tọt xuống hầm. Chiến tranh trong vòng năm năm, từ 1965-1970 có vẻ đang vào giai đoạn khốc liệt nhất ở mọi vùng đất của chế độ Sài Gòn cai quản, huống chi là bên bờ vĩ tuyến 17.

Tác giả ở quê nhà Gio Linh, bên biển đề hướng đi và khoảng cách đến hai căn cứ quân sự ngày xưa: Dốc Miếu và Cửa Việt.

Tác giả ở quê nhà Gio Linh, bên biển đề hướng đi và khoảng cách đến hai căn cứ quân sự ngày xưa: Dốc Miếu và Cửa Việt.

Những người dân quê của làng tôi và các làng lân cận ngày đêm sống trong thấp thỏm lo âu. Lằn ranh giới tuyến là con sông Bến Hải phân chia hai miền, khởi đi từ bản Hiệp định Genève bắt đầu từ năm 1954 đã đẩy quận Gio Linh vào một tình thế vô cùng nguy hiểm.

Bất cứ lúc nào, nếu xảy ra một vụ khiêu khích giữa hai miền thì ở vùng đất này, người dân lành lãnh đủ. Trên giấy tờ, có ghi rằng phía sát hai bờ giới tuyến tạm thời ấy, là vùng phi quân sự.

Song, nếu lấy quận Gio Linh làm tâm điểm, thì cách đó không xa khoảng chỉ vài cây số đường chim bay, bao vây từ bốn phía là bốn căn cứ quân sự ngày đêm rầm rập xe pháo lính tráng: phía Bắc là căn cứ Dốc Miếu án ngữ ngay gần đầu cầu Hiền Lương, là chiếc cầu bắc qua sông Bến Hải; phía Tây là căn cứ Cồn Tiên để án ngữ và ngăn chặn sự đột nhập theo đường núi; căn cứ Quán Ngang nằm ở phía Nam và cảng quân sự Cửa Việt nằm ở phía đông. Hình thế bố trí như vậy, khiến Gio Linh bị lọt thỏm vào một vòng vây kiềm tỏa của bom, pháo và những trận chiến dùng dằng, kéo dài không dứt.

Vì thế, tin tức về những người bà con đi lính chết trận hoặc những người dân tử vong vì không may bị trúng phải bom pháo hầu như không ngớt dội vào mỗi bữa ăn gia đình tôi, lúc này đang ở thị xã Quảng Trị. Và trong trí óc non nớt của cậu học trò lớp 3 là tôi lúc ấy, thỉnh thoảng lại dậy lên một niềm bi phẫn.

Dù vào thời ấy, tôi chẳng thể nào ra nhìn được con sông Bến Hải uốn khúc chở đầy giông bão chiến tranh ra sao, nhưng trong tâm thức qua lời kể của người lớn hoặc bất chợt đọc thấy vài mẩu tin trên báo, trong tôi vẫn ngấm ngầm một ước vọng hòa bình.

Vì mỗi lần về quê, được sống trong tình thương yêu đùm bọc của gia tộc, tôi đã cảm nhận được sự trìu mến của người thân trong họ mạc. Nên lòng cứ mong mỏi sao cho bà con cô bác của mình ở Gio Linh an lành, được cày cấy ruộng nương và sống trong không khí thanh bình, yên ổn.

KÝ ỨC TUỔI LÊN MƯỜI

Cuộc chiến khốc liệt năm 1972 nổ ra, khi tại thủ đô Paris xa xôi đang ở cao trào của hội nghị định đoạt chiến tranh Việt Nam, thì bên bờ con sông Thạch Hãn và ngôi nhà yêu dấu của tuổi thơ tôi lại một lần nữa kinh động bởi quá nhiều trận chiến.

Tôi còn nhớ, năm ấy rất nhiều bà con ở quê nhà Gio Linh kéo nhau chạy để tránh bom đạn, vào nương náu trong căn nhà nhỏ ở thị xã Quảng Trị của gia đình tôi. Để rồi không lâu sau, cuối mùa xuân năm ấy, khi tình hình chiến cuộc nóng dần lên, họ lại tiếp tục chạy vào Huế, Đà Nẵng, mà gia đình tôi cũng không ngoại lệ.

Di tích quốc gia Trường Bồ Đề, ghi dấu chứng tích chiến tranh năm 1972. Ảnh: T.T.B

Di tích quốc gia Trường Bồ Đề, ghi dấu chứng tích chiến tranh năm 1972. Ảnh: T.T.B

Thị xã Quảng Trị tan tành. Thành Cổ xiêu đổ sau 81 ngày đêm giằng co chiến trận. Vừa theo gia đình vào phía nam lánh nạn bom đạn, tôi vừa nghe tin những con đường êm đềm thơ mộng của phố phường hiền hòa gánh chịu biết bao đau thương khổ ải.

Ngôi trường tiểu học Nam cộng đồng mà tôi ngày ngày cắp sách đi học, qua hiệu sách Tao Đàn thơm mùi mực in giấy mới hay con đường Quang Trung chạy dọc bờ sông rợp bóng me và ngô đồng, bỗng chốc thành bình địa. Chỉ còn duy nhất ngôi trường trung học Bồ Đề sát nhà tôi, với những bờ tường và những tầng lầu, là nơi sau đó thành một phòng tuyến của hai bên giành giật bắn phá.

Ở Đà Nẵng năm 1973, lúc ấy tròn 10 tuổi, tôi lại nghe tin rằng con sông Thạch Hãn ở thị xã Quảng Trị nơi tôi từng tắm mát thuở ấu thời trở thành một địa chỉ quan trọng được ghi vào Hiệp định Paris. Đó là địa điểm trao trả tù binh của hai phía và là nơi Ủy ban giám sát đình chiến bốn bên nhận lãnh nhiệm vụ kiểm tra tình hình các bên thi hành Hiệp định.

Sở dĩ ghi dấu vào tâm hồn trẻ thơ những chi tiết ấy, bởi trong những ngày năm đó, có vài người bà con họ hàng đi lính tưởng rằng đã bị mất tích, lâu lâu lại được trở về, ghé thăm nhà tôi trong sự hoan hỉ chào đón. Và câu nói tôi nghe thành quen từ cửa miệng người lớn, là “chú ấy (hoặc anh ấy) vừa được phía bên kia trao trả về từ bờ bắc sông Thạch Hãn”!

Đường Đinh Tiên Hoàng, con đường ngày xưa dẫn vào ngôi nhà của người viết ở thị xã Quảng Trị. Ảnh: T.T.B

Đường Đinh Tiên Hoàng, con đường ngày xưa dẫn vào ngôi nhà của người viết ở thị xã Quảng Trị. Ảnh: T.T.B

Tính trong 19 năm (1954-1973), dấu mốc ghi lại cuộc chiến ở miền Trung những ngày tháng ấy, vẫn là hai con sông lịch sử. Trên nền của một chiến thắng và dẫn dắt dân tộc đi đến hòa bình, Quảng Trị của những năm xưa vẫn là một trong những địa danh gánh chịu nhiều đau thương dai dẳng và khốc liệt bậc nhất.

Vì thế, trong những ngày sự kiện mang tính trọng đại đánh dấu cột mốc thống nhất non sông dịp 30-4 hàng năm, tôi lại bùi ngùi nhớ hành trình chuyến đi dài theo cuộc chiến của gia đình, và của người dân Quảng Trị quê mình thuở nào. Để rồi, sau đó mỗi khi có dịp tụ hội, ôn lại những dĩ vãng xa xưa, giữa không khí hòa bình, xen lẫn trong đó là mộng ước về mai này quê nhà sung túc và đất nước thịnh vượng hơn.

Chợt nhớ câu chuyện mới đây, một sớm bên dòng Thạch Hãn, tôi cùng người bạn thân loanh quanh Thành cổ thăm lại ký ức xưa, rồi buột miệng nói với nhau rằng, mới đó mà đã hơn 50 năm qua đi. Thời gian trôi và những vết hằn vẫn còn đó, trên những bức tường ngôi trường Bồ Đề một thời gánh nặng cả miền đau thương…

Trần Thanh Bình

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/que-toi-mien-dat-giua-hai-hiep-dinh/