Phúc Sơn: 'Xanh hóa' các động lực tăng trưởng

Sau hơn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, xã Phúc Sơn đang tổ chức lại không gian sản xuất, dịch vụ và du lịch. Mục tiêu tăng trưởng hai con số được đặt trong yêu cầu xuyên suốt: Từng động lực phát triển phải tạo thêm sinh kế nhưng không đánh đổi môi trường và bản sắc.

Các nhà khoa học khảo sát giống sâm trên núi Ắng Bằng (xã Phúc Sơn).

Các nhà khoa học khảo sát giống sâm trên núi Ắng Bằng (xã Phúc Sơn).

Phát triển nông nghiệp xanh

Hơn 25 năm gắn bó với ruộng đồng, ông Ngô Đức Mạnh, ở thôn Thượng Lâm, luôn trăn trở làm thế nào để “sống khỏe” từ nông nghiệp. Sau nhiều năm tìm hiểu thị trường, ông đầu tư hệ thống xử lý nước, tưới tiết kiệm; trồng ớt, rau ngót, dưa leo, dưa lê, chuối... theo quy trình VietGAP.

Việc chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh được ghi nhật ký; phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học được ưu tiên nhằm hạn chế dư lượng hóa chất trong đất, nước và nông sản. Nông trại hiện tạo việc làm cho khoảng 20 - 30 lao động địa phương, thu nhập 150.000 - 250.000 đồng/người/ngày; doanh thu hằng năm đạt 2 - 3 tỷ đồng, cao gấp nhiều lần trồng lúa truyền thống.

Ông Mạnh còn chia sẻ kinh nghiệm ghi nhật ký sản xuất, lựa chọn cây trồng và tìm đầu ra với nông dân địa phương, nhất là những người trẻ muốn khởi nghiệp từ nông nghiệp sạch. Theo ông, sản xuất chỉ bền vững khi người làm nông kiểm soát được đất, nước, vật tư đầu vào, chất lượng sản phẩm và thị trường tiêu thụ.

Cách làm mới cũng đang được mở rộng trên đồng ruộng Phúc Sơn. Vụ mùa năm 2026, mạ khay, cấy máy được áp dụng trên 121ha tại các hợp tác xã Mỹ Thành, Bột Xuyên, Thượng Lâm, Đồng Tâm. Hợp tác xã Bột Xuyên liên kết sản xuất, tiêu thụ 25ha lúa J02 và nếp Cô Tiên. Cơ giới hóa giúp giảm công lao động, bảo đảm thời vụ; liên kết đầu ra buộc người sản xuất tuân thủ quy trình, chú trọng chất lượng nông sản.

Tuy nhiên, cơ giới hóa hay sản xuất giá trị cao chưa mặc nhiên đồng nghĩa với nông nghiệp xanh. Trồng lúa vẫn có thể phát thải; chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản có thể gây ô nhiễm nguồn nước; phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, rơm rạ và phụ phẩm nếu xử lý không đúng cách sẽ tạo thêm áp lực cho môi trường.

Vì vậy, hướng đi của Phúc Sơn không dừng ở việc đưa giống mới, máy móc và công nghệ vào sản xuất. Địa phương còn phải giảm đầu vào hóa học, tiết kiệm nước, kiểm soát chất thải chăn nuôi, thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật, tận dụng rơm rạ và phụ phẩm. Giá trị trên mỗi đơn vị đất chỉ bền vững khi đi cùng chất lượng đất, nước và môi trường sống.

Xanh từ quy hoạch đến vận hành

Sáu tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất của Phúc Sơn tăng 8,3% so với cùng kỳ. Để hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, địa phương xác định ba động lực chính: Thương mại - dịch vụ; du lịch sinh thái hồ Tuy Lai; nông nghiệp giá trị cao. Cùng với đó là việc xúc tiến Cụm công nghiệp Phúc Sơn, phát huy các nghề may mặc, thêu, mây tre đan, chế biến và dịch vụ phục vụ sản xuất.

Bài toán đặt ra không chỉ là mở rộng quy mô, mà phải đưa tiêu chí xanh vào ngay từ quy hoạch, lựa chọn dự án đến tổ chức vận hành. Chủ tịch UBND xã Phúc Sơn Trần Xuân Hải cho biết, sau khi thành lập xã mới, không gian và nguồn lực phát triển rộng hơn, nhưng nếu từng địa bàn, từng ngành vẫn hoạt động riêng lẻ thì khó tạo đột phá. Công việc trước mắt là xác định rõ vùng sản xuất, khu thương mại - dịch vụ, không gian công nghiệp, du lịch và hạ tầng kết nối.

Theo ông Trần Xuân Hải, dự án được lựa chọn không thể chỉ dựa vào quy mô vốn hay khả năng tăng giá trị sản xuất, mà còn phải tính đến việc tạo việc làm, đóng góp ngân sách, sử dụng tài nguyên và giải quyết các vấn đề môi trường. Hạ tầng xử lý nước thải, chất thải phải được tính toán từ đầu, không thể để sản xuất phát triển trước rồi mới khắc phục ô nhiễm.

Yêu cầu ấy đặc biệt quan trọng với Cụm công nghiệp Phúc Sơn. Khi các cơ sở may mặc, thêu, mây tre đan, chế biến được bố trí tập trung, việc đầu tư máy móc, bảo đảm an toàn lao động, thu gom phế liệu và kiểm soát chất thải sẽ thuận lợi hơn. Nhưng nếu giao thông, điện, cấp thoát nước và xử lý nước thải không đồng bộ, cụm công nghiệp có thể trở thành điểm phát sinh áp lực mới.

Tương tự, trung tâm giao thương - chợ đầu mối không chỉ là nơi tập kết, mua bán hàng hóa. Để trở thành một động lực xanh, trung tâm cần gắn với sơ chế, bảo quản, truy xuất nguồn gốc, giảm thất thoát nông sản, thu gom rác và xử lý nước thải. Hoạt động chế biến, giết mổ cũng phải tổ chức theo chuỗi, bảo đảm kiểm dịch, an toàn thực phẩm và kiểm soát chất thải.

Với hồ Tuy Lai, hệ thống di tích, lễ hội và làng nghề, tiềm năng lớn nhất nằm ở khả năng kết nối thành chuỗi sản phẩm mang bản sắc địa phương. Du khách không chỉ đến ngắm cảnh, chụp ảnh mà có thể trải nghiệm văn hóa, ẩm thực, nông nghiệp, mua sản phẩm thêu, mây, tre đan và nông sản tại chỗ. Tuy nhiên, phát triển du lịch phải đi cùng bảo vệ nguồn nước, kiểm soát xây dựng, thu gom rác và tạo điều kiện để cộng đồng địa phương trực tiếp cung cấp dịch vụ, hưởng lợi từ tài nguyên mình gìn giữ.

Đến năm 2030, Phúc Sơn đặt mục tiêu toàn bộ rác thải sinh hoạt được thu gom, xử lý; ít nhất 80% nước thải đô thị được xử lý đạt chuẩn trước khi xả ra môi trường. Đây không chỉ là những chỉ tiêu môi trường, mà còn là điều kiện để các động lực tăng trưởng vận hành lâu dài.

Từ thay đổi trong một nông trại đến cách tổ chức lại không gian nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và du lịch, chuyển đổi xanh ở Phúc Sơn mới ở bước khởi đầu. Điều quan trọng là địa phương đã bắt đầu nhìn tăng trưởng bằng thước đo rộng hơn: Người dân có thêm sinh kế, môi trường sống được cải thiện và những giá trị riêng của quê hương được giữ lại.

Bài và ảnh: Kim Nhuệ

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/phuc-son-xanh-hoa-cac-dong-luc-tang-truong-1214734.html