Phố núi sương bay
ĐNCT - Giữa những ngày hè nóng nực, từ Đà Nẵng, sau hơn một giờ bay và lên ô tô vượt chặng đường khoảng 85 km từ Hà Nội về hướng Tây Bắc, băng qua những con đường khá hẹp và đầy dốc, chúng tôi đến Tam Đảo, nơi được mệnh danh là “Đà Lạt ở miền Bắc”.

Tam Đảo kỳ ảo dưới những tầng mây. Ảnh: Tư liệu
Tam Đảo là một dãy núi và cũng là khu du lịch nổi tiếng nằm trên địa bàn xã Tam Đảo, tỉnh Phú Thọ. Ở độ cao 1.000m so với mực nước biển, nơi đây có khí hậu mát mẻ quanh năm. Du khách đến đây đều thú vị với những dãy sương mù thỉnh thoảng ghé lại, bay la đà như chiếc khăn voan trắng của nàng tiên nữ lỡ tay đánh rơi trên đá núi khi bay về trời.
Quanh co qua những hẻm phố, trước mắt tôi là Nhà thờ Đá nằm trên một quả đồi nhỏ. Nhà thờ được xây dựng từ năm 1906 theo lối kiến trúc phương Tây hiện lên với vẻ đẹp u trầm, cổ kính. Đứng ở sân nhà thờ, bạn tha hồ check-in cùng mây bay qua những dãy nhà cao cao sơn xanh, sơn đỏ hoặc sờ tay vào bức tường đá mát lạnh, vững chãi và bền bỉ trước dòng thời gian.
Tam Đảo không có những con đường rải nhựa rộng rãi, chỉ có những cung đường đầy dốc, nhỏ hẹp băng qua những ngôi nhà kín cổng cao tường và đây cũng là đặc điểm riêng của phố núi. Phương tiện di chuyển tiện dụng nhất ở đây là xe điện. Chỉ cần 20.000 đồng, bạn có thể lên xe đi đến bất kỳ địa điểm nào hoặc đi vòng quanh thị trấn để hưởng không khí se lạnh, nghe hương vị thơm thơm của món thịt tái bò kiến đốt thoảng qua khi ngang qua một tiệm ăn…
Sáng sớm Tam Đảo mịt mù trong làn mưa bụi, từ tầng cao nhất của khách sạn, tôi nhận ra nhịp sống tĩnh lặng chậm rãi khác hẳn với sự xô bồ nhộn nhịp lúc đêm. Một chút hơi lạnh luồn qua kẽ tay khi tôi hứng những giọt mưa nhẹ bay, xuyên theo cánh gió. Cơn mưa chợt đến sớm rồi vội vã rời đi để lại không gian mát mẻ, trong trẻo cho Tam Đảo.
Điểm tâm xong, chúng tôi bắt xe điện đến cà phê ở Quán Gió. Quán nằm ở lưng chừng đồi. Ngồi nhìn những giọt cà phê rơi vào đáy cốc và im lặng ngắm những mảng mây bay la đà trên đầu, một cảm giác bồng bềnh, phiêu diêu huyễn hoặc dâng lên trong tôi.
Trời hửng, màn mây tan nhanh, chúng tôi đến thăm Đền Bà chúa thượng ngàn, lòng chợt nhớ đến tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Vượt gần ba trăm bậc tam cấp đá đầy rêu và nước mưa, chúng tôi vào thắp hương Đền cùng Chùa Vàng. Đến thăm nơi đây, chúng tôi hiểu thêm phần nào về tín ngưỡng thờ Mẫu, một hình thức tôn thờ các nữ thần và Thánh Mẫu, tượng trưng cho đất, nước, rừng và bầu trời.
May mắn trong dịp này, tôi được chứng kiến hát hầu đồng. Các cô, các bà trong trang phục rực rỡ, giọng ca vút cao trong điệu chầu văn kết hợp cùng vũ đạo và âm thanh của dàn trống gõ khiến không gian đền chùa trở nên rộn rã, cuốn hút bước chân du khách gần xa.
Đầu giờ chiều, đoàn chúng tôi đến thăm Cầu Mây Tam Đảo, chiếc cầu làm bằng tre nứa, phía dưới được chống đỡ bằng những cây trụ sắt, nằm cong cong như nửa vầng trăng dọc theo sườn núi. Trước khi tạm biệt Tam Đảo, tôi còn đến thăm Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, một trong ba thiền viện lớn nhất Việt Nam, được xây dựng dưới triều đại nhà Mạc thế kỷ XVI.
Khung cảnh trữ tình với màn sương lãng đãng, cái lạnh dìu dịu cùng vẻ đẹp thâm u của núi đồi, rừng cây Tam Đảo như níu chân du khách. Và trong tôi văng vẳng câu hát: “Chốn Bồng lai Tam Đảo lưng đèo lộng gió/ Trắng bạc đầu sương đậu long lanh” (Ca khúc Non xanh Tam Đảo, nhạc sĩ Quỳnh Hợp)…
