Phát triển hệ sinh thái FDI chất lượng cao, bền vững

Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị không chỉ mang lại những chính sách mới mà còn định hình góc nhìn mới về lộ trình phát triển đất nước. Qua gần bốn thập kỷ đổi mới, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) đã chứng minh tính đúng đắn khi trở thành động lực then chốt, đóng góp to lớn vào tăng trưởng kinh tế, gia tăng xuất khẩu, tạo việc làm và thúc đẩy Việt Nam hội nhập sâu rộng.

Tại Tọa đàm “Nghị quyết 10: Phát triển hệ sinh thái FDI chất lượng cao” do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức chiều 7/8, các chuyên gia đã đưa ra nhiều quan điểm mới của Đảng về phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Toàn cảnh buổi tọa đàm

Toàn cảnh buổi tọa đàm

Số lượng dự án hay tổng vốn không còn là thước đo duy nhất

Cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, trong khi khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo đang tạo ra những bước đột phá mạnh mẽ. Vì vậy, yêu cầu đối với dòng vốn nước ngoài cũng không thể dừng ở việc “có thêm vốn”.

Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) Bùi Thu Thủy phát biểu

Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) Bùi Thu Thủy phát biểu

Theo Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) Bùi Thu Thủy hạn chế đáng chú ý trong quá trình thu hút FDI thời gian qua là mức độ lan tỏa đối với khu vực kinh tế trong nước.

Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vì thế đặt ra một yêu cầu mới: không chỉ thu hút nguồn lực bên ngoài mà phải kết hợp chặt chẽ nguồn lực nước ngoài với nguồn lực trong nước để gia tăng nội lực của nền kinh tế.

Theo bà Thủy, Nghị quyết 10-NQ/TW tạo ra 6 chuyển đổi lớn về tư duy phát triển. Đầu tiên là chuyển từ tư duy “thu hút đầu tư nước ngoài” sang “phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”. Phạm vi không chỉ còn đầu tư trực tiếp mà bao gồm cả đầu tư gián tiếp, thị trường vốn, các thiết chế tài chính quốc tế; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được xác định là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế quốc dân.

Tiếp đó là chuyển từ coi trọng quy mô, số lượng vốn sang chú trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng.

Vốn vẫn cần, nhưng số lượng dự án hay tổng vốn không còn là thước đo duy nhất. Điều quan trọng hơn là dòng vốn đó tạo ra tác động lan tỏa thế nào, đem lại kết quả gì cho doanh nghiệp trong nước và đóng góp ra sao cho nền kinh tế.

Theo đại diện Bộ Tài chính, ưu đãi không còn là “mồi câu” duy nhất. Một điểm thay đổi đáng chú ý khác là tư duy về ưu đãi đầu tư. Nếu trước đây ưu đãi chủ yếu dựa vào ngành, lĩnh vực hoặc địa bàn, thì theo định hướng của Nghị quyết 10, ưu đãi trong thời gian tới phải gắn với kết quả đầu ra. Nói cách khác, dòng vốn được hưởng ưu đãi phải chứng minh được đóng góp thực tế cho nền kinh tế, từ mức độ lan tỏa, công nghệ hiện đại đến khả năng chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước. Mục tiêu là tránh tình trạng dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam nhưng vận hành biệt lập, tạo thành “2 nền kinh tế trong một nền kinh tế”.

Do đó, bà Bùi Thu Thủy cho rằng, Việt Nam cần chuyển từ thu hút các dự án FDI đơn lẻ sang phát triển đồng bộ hệ sinh thái gắn kết với các dòng vốn quốc tế. FDI không vận hành độc lập mà cần kết nối với đầu tư gián tiếp và các nguồn vốn quốc tế khác thông qua những mô hình mới như trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do hay các khu kinh tế đặc biệt.

Cùng với đó là sự chuyển đổi từ tư duy “quản lý đầu tư” sang “kiến tạo môi trường đầu tư kinh doanh”. Cơ quan quản lý không chỉ bảo đảm nhà đầu tư tuân thủ pháp luật mà còn phải tạo môi trường để dòng vốn ngoại kết hợp hiệu quả với nguồn lực trong nước. Muốn vậy, Việt Nam phải chuẩn bị đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường kinh doanh, năng lực quản trị và thể chế.

Uỷ viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Phan Đức Hiếu phát biểu

Uỷ viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Phan Đức Hiếu phát biểu

Ở góc nhìn khác, Ủy viên Ủy ban Kinh tế Tài chính của Quốc hội Phan Đức Hiếu cho rằng: Nói không với thu hút đầu tư FDI bằng mọi giá là một trong những điểm thể hiện rõ tư duy sâu sắc và thực tế hơn của Nghị quyết 10-NQ/TW.

Cũng theo ông Phan Đức Hiếu, Việt Nam không thể thu hút đầu tư mãi bằng một công cụ duy nhất là ưu đãi. Muốn nâng cao chất lượng dòng vốn FDI, vấn đề mấu chốt là phải nâng cao năng lực hấp thụ của nền kinh tế.

Dòng vốn FDI tốt không tự động tạo ra lan tỏa nếu nền kinh tế thiếu khả năng hấp thụ. Do đó, cùng với thu hút FDI, phải nâng cao chất lượng khu vực doanh nghiệp trong nước, hoàn thiện hạ tầng phục vụ sản xuất, kinh doanh và tăng khả năng sẵn sàng hợp tác với khu vực đầu tư nước ngoài. Đây chính là điểm khác biệt quan trọng: thay vì chỉ tìm cách làm cho dòng vốn ngoại “chảy vào”, Việt Nam phải chuẩn bị năng lực để hấp thụ và biến dòng vốn đó thành năng lực của chính mình.

Nghị quyết mang tính đột phá về tư duy và cơ chế cho địa phương

Từ góc độ địa phương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên Lê Quang Hoà cho rằng: Trong bối cảnh chịu áp lực rất lớn về thu hút đầu tư và tối ưu hóa việc khai thác nguồn lực hạ tầng công nghiệp, việc Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW đã mang lại một luồng sinh khí mới cho các địa phương trong cả nước, đặc biệt là đối với Hưng Yên và top 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu về thu hút FDI. Nghị quyết chứa đựng nhiều điểm mới mang tính đột phá về tư duy và cơ chế.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên Lê Quang Hoà chia sẻ

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên Lê Quang Hoà chia sẻ

Trong đó, tỉnh tập trung triển khai nghiên cứu, ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của địa phương dựa trên tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW nhằm tạo ra những động lực mới hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài.

Cụ thể, thông qua Quyết định số 1499/QĐ-TTg mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập Khu công nghệ cao tỉnh Hưng Yên với quy mô gần 500ha đặt tại trung tâm vùng công nghiệp phía Bắc của tỉnh. Đây là một trong 2 động lực đột phá chiến lược, tạo điểm nhấn quan trọng trong quá trình hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật nhằm thu hút mạnh mẽ dòng vốn FDI công nghệ cao.

Từ thực tế đó, tỉnh Hưng Yên kiên trì kiến nghị, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét cho phép áp dụng mô hình thể chế vượt trội trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các nguồn vốn quốc tế. Xuất phát từ thực tiễn sở hữu hạ tầng công nghiệp rất lớn, nếu không có thể chế đặc thù, cơ chế vượt trội theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW thì quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và việc tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu của tỉnh sẽ gặp nhiều rào cản. Do đó, tỉnh Hưng Yên đã chủ động xây dựng đề án, báo cáo Chính phủ và Bộ Tài chính từ rất sớm. Hiện Bộ Tài chính đang xem xét, thẩm định, và chắc chắn tỉnh sẽ quyết tâm theo đuổi để có động lực phát triển bứt phá trong thời gian tới.

Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam Binu Jacob phát biểu

Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam Binu Jacob phát biểu

Là một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã gắn bó tại Việt Nam trong suốt 30 năm qua, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam Binu Jacob nhận định: tín hiệu quan trọng đầu tiên mà Nghị quyết số 10-NQ/TW gửi đến cộng đồng doanh nghiệp đầu tư nước ngoài là các nhà đầu tư không nên đến Việt Nam nếu chỉ nhằm tìm kiếm những lợi ích ngắn hạn; ngược lại, Việt Nam luôn rộng mở chào đón các nhà đầu tư đến để hợp tác, đồng hành, cùng tạo ra sức mạnh cộng hưởng và xây dựng các giá trị bền vững trong dài hạn.

Dù vẫn có thể tồn tại một số nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội ngắn hạn, nhưng xét về tổng thể, ngày càng có nhiều doanh nghiệp FDI tìm đến Việt Nam vì các giá trị bền vững, từ đó góp phần hình thành một hệ sinh thái lành mạnh, kết nối hiệu quả giữa khu vực đầu tư nước ngoài và cộng đồng doanh nghiệp trong nước. Thực tiễn từ câu chuyện của Nestlé là một minh chứng rõ nét.

“Đây là một chủ trương, định hướng chính sách hết sức đúng đắn và rõ ràng của Việt Nam, chắc chắn sẽ mang lại nhiều tác động tích cực lan tỏa cho cả khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài lẫn nền kinh tế trong nước.” Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam nhấn mạnh.

Khánh Duy

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/phat-trien-he-sinh-thai-fdi-chat-luong-cao-ben-vung-10426584.html