Nông sản Việt tìm cách tăng giá trị
Xuất khẩu nông sản vẫn tăng, nhưng yêu cầu từ các thị trường ngày càng cao. Muốn bán được hàng, bán với giá tốt hơn và giữ khách lâu dài, doanh nghiệp phải chăm chút từ vùng nguyên liệu, chế biến, bảo quản đến cách đưa sản phẩm vào từng thị trường.
Thị trường ngày càng khó tính
Trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt gần 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. GDP toàn ngành tăng khoảng 3,8 - 3,85%, cán cân thương mại xuất siêu 9,2 tỷ USD. Kết quả này cho thấy nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong xuất khẩu, nhưng phía sau mức tăng là yêu cầu ngày càng cao từ người mua.

Yêu cầu từ các thị trường xuất khẩu ngày càng cao với hàng Việt.
Bà Nguyễn Thảo Hiền - Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài, Bộ Công Thương cho biết xuất khẩu nông sản những năm gần đây tăng nhanh hơn mức tăng chung. “Giai đoạn 2022-2025, tốc độ phát triển xuất khẩu chỉ 9%/năm nhưng riêng nông sản xuất khẩu là 15-16%/năm. Không chỉ sản xuất nhiều hơn, ngành nông nghiệp còn sản xuất tốt hơn, sạch hơn, bền vững hơn. Đây chính là hướng đi của ngành nông nghiệp Việt Nam”, bà Hiền phân tích.
Sự thay đổi này thể hiện khá rõ ở các thị trường lớn. Châu Âu và Mỹ đang siết các quy định về kiểm dịch động thực vật, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường. Những quy định về chống phá rừng, carbon hay chống khai thác IUU cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hàng xuất khẩu. Vì vậy, doanh nghiệp không thể chỉ lo khâu bán hàng mà phải kiểm soát từ giống, vùng trồng, cách canh tác, thu hoạch đến sơ chế, đóng gói, bảo quản và vận chuyển.
Tại Tp.HCM, yêu cầu này càng rõ khi Thành phố hiện đảm nhận khoảng 30 - 35% giá trị sản xuất chế biến lương thực, thực phẩm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và chiếm khoảng 14 - 15% quy mô sản xuất công nghiệp cả nước. Ông Lê Anh Hoàng - Phó giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư TP.HCM cho rằng doanh nghiệp cần đi dần từ bán nguyên liệu sang làm ra sản phẩm có giá trị cao hơn. “Trước đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng và các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, ngành nông nghiệp đang định hình bước chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang chế biến sâu có giá trị gia tăng cao, tuân thủ các chuẩn mực về môi trường và trách nhiệm xã hội”, ông Hoàng cho biết.
Theo hướng này, TP.HCM đang triển khai các chương trình phát triển nông nghiệp đô thị và ngành chế biến lương thực thực phẩm, tập trung vào công nghệ sau thu hoạch, kinh tế tuần hoàn và logistics chuỗi lạnh. Các nhóm hàng được ưu tiên liên kết gồm hạt điều, cao su, hồ tiêu, cà phê, ca cao, chè, gạo, thủy hải sản, thực phẩm chế biến và sản phẩm Halal.
Thị trường châu Âu cho thấy khá rõ cơ hội cho hàng Việt, nhưng người mua cũng đang chọn hàng kỹ hơn. EU hiện nhập khẩu khoảng 14 tỷ EUR thực phẩm từ ASEAN, trong đó hàng Việt Nam chiếm khoảng 25%. Thương mại điện tử B2B tại châu Âu tăng bình quân hơn 22% mỗi năm, mở thêm cách tiếp cận khách hàng cho doanh nghiệp có sản phẩm đạt chuẩn và giao hàng ổn định.

Thị trường châu Âu cho thấy khá rõ cơ hội cho hàng Việt, nhưng người mua cũng đang chọn hàng kỹ hơn.
Ông Sven Dekker - đại diện Công ty Food Europe BV Hà Lan tại Việt Nam cho rằng muốn tăng lượng hàng bán vào châu Âu, doanh nghiệp phải bảo đảm chuỗi cung ứng bền vững “từ hạt giống đến bàn ăn”. Một cách tiếp cận đang được thử nghiệm là đưa hàng Việt lên các nền tảng B2B. Nền tảng Miss Linh tại Hà Lan hiện quy tụ hơn 30 thương hiệu, kết nối với hơn 1.300 nhà hàng và từng bước đưa hàng vào các hệ thống phân phối lớn tại Hà Lan, Bỉ.
Ngay tại thị trường trong nước, các hệ thống bán lẻ cũng đặt yêu cầu cao hơn với nhà cung cấp. Central Retail hiện có hơn 330 trung tâm thương mại và cơ sở kinh doanh tại 26/34 tỉnh, thành phố, duy trì tỷ lệ hàng có nguồn gốc trong nước khoảng 90%. Với thực phẩm tươi sống, hệ thống áp dụng HACCP, kiểm soát phụ gia và ưu tiên một số sản phẩm hữu cơ, không chứa kháng sinh. Điều này cho thấy doanh nghiệp muốn đi xa trước hết phải làm tốt ngay ở thị trường trong nước.
Mở thị trường, giữ chắc đầu vào
Bên cạnh việc đáp ứng tiêu chuẩn, nhiều doanh nghiệp đang tìm thêm thị trường để giảm rủi ro. Ngoài EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, Trung Đông đang được quan tâm nhiều hơn. Các tập đoàn như Lulu, Lootah đánh giá Việt Nam có khả năng cung ứng nhiều loại nông sản, thực phẩm, nhưng cũng đề nghị doanh nghiệp chú ý hơn đến chất lượng để sản phẩm có thể vào sâu các kênh phân phối trong khu vực. Đông Nam Á cũng còn nhiều cơ hội qua các hệ thống bán lẻ và chương trình kết nối hàng Việt.
Tuy nhiên, có thêm thị trường chưa có nghĩa là doanh nghiệp đã bớt khó. Quan trọng hơn là phải giữ được nguồn hàng ổn định, chất lượng đồng đều và có nhiều nhóm sản phẩm để xoay xở khi nhu cầu thay đổi.
Vegetexco Vietnam là một ví dụ. Doanh nghiệp hiện có trên 35 đơn vị thành viên và công ty liên kết, sản phẩm đã có mặt tại 58 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Để đảm bảo nguồn cung, doanh nghiệp đang xây dựng các vùng chuyên canh, trung tâm bảo quản và chế biến tại bốn vùng kinh tế trọng điểm (Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên). Năng lực cung ứng hằng năm của doanh nghiệp này đạt khoảng 100.000 tấn rau củ, hoa quả tươi và sản phẩm chế biến sâu, 3 triệu tấn lương thực, 300.000 tấn hạt và nguyên liệu đồ uống cùng 20.000 tấn thủy sản. Sản phẩm được kiểm soát theo nhiều tiêu chuẩn quốc tế.
Ông Lê Anh Dũng - Tổng giám đốc Vegetexco Vietnam cho rằng doanh nghiệp càng phụ thuộc vào ít sản phẩm, ít thị trường thì càng dễ gặp khó khi chính sách hoặc nhu cầu mua hàng thay đổi. “Doanh nghiệp nếu quản trị được chuỗi cung ứng toàn diện với chất lượng đảm bảo thì rào cản nào cũng vượt qua được. Doanh nghiệp cũng cần đa dạng hóa sản phẩm để khi môi trường biến động thì với nhiều sản phẩm nên có thể nhẹ nhàng chuyển dịch sang các sản phẩm khác để hoạt động bình thường, ổn định. Đồng thời, phải đa dạng hóa thị trường, có những chính sách của nhiều chính phủ mà doanh nghiệp không thể dự đoán được nên nếu bị động, ít thị trường thì rất nguy hiểm”, ông Dũng chia sẻ.

Ngay tại thị trường trong nước, các hệ thống bán lẻ cũng đặt yêu cầu cao hơn với nhà cung cấp.
Từ thực tế này, việc tìm thêm người mua cần đi cùng với việc chuẩn bị nhiều sản phẩm và nhiều thị trường. Khi một nơi giảm đơn hàng, doanh nghiệp còn nơi khác để bán; khi một mặt hàng gặp khó, có thể chuyển sang nhóm sản phẩm phù hợp hơn. Chế biến cũng là khâu có thể giúp nông sản bán được giá tốt hơn. Thay vì chủ yếu xuất nguyên liệu, doanh nghiệp có thể làm thêm sản phẩm đã sơ chế, chế biến và đóng gói phù hợp với từng nhóm khách hàng. Sản phẩm bảo quản được lâu hơn sẽ giảm áp lực phải bán nhanh theo mùa vụ. Đi cùng với đó là kho lạnh, vận chuyển lạnh, truy xuất nguồn gốc và các kênh bán hàng trực tuyến.
Theo các chuyên gia, nông sản Việt vẫn còn nhiều cơ hội ở cả thị trường cũ và thị trường mới. Để bán được nhiều hơn và giữ khách lâu dài, doanh nghiệp phải làm chắc từ vùng nguyên liệu, nâng chất lượng chế biến, bảo quản tốt và mở rộng nơi tiêu thụ. Khi các khâu này được nối với nhau, giá trị nông sản Việt sẽ tăng lên rõ hơn.

