Những vuông đất in hình hài người lính

Thời chiến chuyển sang thời bình, nhiều mặt trận mới mở ra cũng gian nan, vất vả không kém, mà trong đó có phần việc của những người lính trẻ làm nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sĩ. Và nhà thơ Vũ Toàn đã nhập cuộc vào mặt trận ấy trong tâm thế và tâm trạng rất khác, được thể hiện qua trường ca 'Giữa rừng Lào'.

Chính sự đối mặt với những hy sinh, mất mát của những người đồng đội từ quá khứ chiến tranh đã đánh thức nỗi đau và lòng trắc ẩn trĩu nặng trong tâm khảm tác giả. Có cảm giác như tác giả lại đi qua chiến tranh thêm một lần nữa với những “Cây nhang thắp nhói lên chấm đỏ”. Chấm đỏ ấy chính là màu của máu đã đổ. Một nỗi đau thời chiến hiện về khiến Vũ Toàn luôn bị ám ảnh, nhức nhối.

Trạng thái tâm lý ấy khiến tác giả, vốn là người lính từng trải qua chiến tranh, nay nhập cuộc vào công việc đi tìm hài cốt liệt sĩ bằng những câu thơ ướt đẫm gian lao kể cả cái chết cận kề: “Tìm trong gian nan, tìm trong nước mắt/ Tìm trong hiểm nguy, trong cận kề cái chết/ Tìm cả trong giấc mơ thiêm thiếp những đêm rừng”.

Và chính những người lính quy tập chứ không phải là ai khác phải chứng kiến những tư thế hy sinh của những người đồng đội khi buộc phải giã từ tất cả: “Có mộ anh nằm như đang ngủ/ Có mộ anh nằm đầu quấn băng/ Có mộ anh nằm mái tóc còn nguyên/ Có mộ anh nằm hai chân nẹp bột/ Có mộ còn nguyên trong bọc tăng”...

Công việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ thường xuyên đến nỗi: “Lính quy tập ngày đi, đêm nghỉ/ Nhưng có đêm lại lích kích lên đường/ Có lệnh là đi như thể chiến trường”. Nó thường trực đến nỗi: “Tôi nằm nghe gió trở/ Trên mái tăng ướt đầm/ Tôi nằm mơ thấy mộ/ Chập chùng/ Chập chùng đêm”.

Hiếm hoi lắm mới gặp những câu thơ về trăng, về vẻ đẹp vầng trăng trên nấm mộ người lính trong mắt người lính quy tập, xuất hiện ở trường ca này: “Trên chót vót rừng đen/ Đêm tìm mộ vẫn đội hình hàng dọc/ Chợt trong veo, trong vắt vầng trăng/ Trăng gần lắm đưa tay là với được/ Kìa vầng trăng như võng gai, võng bạt/ Vầng trăng trên trời - vầng trăng dưới đất/ Đang ru anh quanh núi rừng Phú Mộc/ Quanh núi rừng Long Chẹng/ Núi rừng Phú Tà Can/ Ru dằng dặc những cánh rừng xa lắc/ Bao nấm mộ các anh đang nằm thức/ Đang nằm chìm trong ánh trăng trăng”...

Còn đây là những câu thơ tầm cỡ “trong ký ức chôn vùi”: “Gió cuồn cuộn, mây vỡ ra từng đám/ Mây bay về đâu giữa trời thẳm, rừng dày/ Bất chợt hoa cúc quỳ màu nắng/ Nở thành bờ lau lách giữa đơn côi/ Nở vào tôi màu hoa thành thuốc đắng/ Loang sâu trong ký ức chôn vùi/ Đất nằng nặng bàn chân đi tìm bạn/ Hoa cúc quỳ hay bóng bạn đang rơi”...

Trong trường ca “Giữa rừng Lào” có những chi tiết thơ viết về thân phận người vợ lính, bi kịch người vợ lính - những chinh phụ thời này cũng rất độc, rất lạ: “Chị lẻ loi, nước mắt cũng lẻ loi/ Giọt nào rơi thấm mặt gối đôi/ Giọt nào rơi quanh ruột gan se thắt”… Và “Chị một đời khép kín/ 42 năm thờ chồng và thờ một dòng tin/ Dòng tin ấy rồi cũng về với chị/ Khi mộ anh tìm thấy giữa rừng Lào/ Xót xa cũ phủ lên xa xót mới/ 65 tuổi đời, chị mới nhận dâu”...

Viết những thân phận, bi kịch bằng cách cảm ấy để thấy sâu nặng thêm rằng những nấm mộ liệt sĩ chính là dấu ấn cuối cùng của cuộc chiến tranh mà bao tượng đài không tên đang khuất chìm trong đó: “Những vuông đất in hình hài người lính/ Bức chứng chỉ cuối cùng của cuộc chiến tranh/ Bức chứng chỉ cuối cùng - những tượng đài không tên/ Bao tượng đài không tên đang khuất chìm trong mộ”.

Tôi đọc “Giữa rừng Lào” và hiểu vì sao bài thơ ngắn “Những người lính thời bình không thích hát” lại ra đời trước cả trường ca “Giữa rừng Lào”. Chính cái tư thế và tâm thế: “Những người lính thời bình/ Bước trên đường tìm mộ/ Bao nỗi niềm riêng tư/ Rưng rưng Nhà liệt sĩ”. Và “Người sống và người thác/ In trong nhau bóng hình” đã thôi thúc Vũ Toàn đi và viết, ngẫm và viết trong sự đau đáu khôn nguôi. Tôi cũng dám chắc trường ca “Giữa rừng Lào” là những câu thơ máu thịt, lại đầy đặn và trọn vẹn nhất đặng tri ân những anh hùng liệt sĩ của Tổ quốc ta, nhân dân ta.

Đặng Huy Giang

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/nhung-vuong-dat-in-hinh-hai-nguoi-linh-1213867.html