Những kỳ họp mang dấu ấn lịch sử trong tiến trình 80 năm của Quốc hội Việt Nam

Trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, kỳ họp Quốc hội là hình thức hoạt động chủ yếu, là nơi ý chí, nguyện vọng của nhân dân được kết tinh thành quyết sách của đất nước. Mỗi kỳ họp không chỉ là một mốc thời gian trong tiến trình làm việc của Quốc hội mà còn là nơi hội tụ trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm của các đại biểu Quốc hội. Chính tại các kỳ họp Quốc hội, những đạo luật được ban hành, những tầm nhìn chiến lược được thông qua, những vấn đề hệ trọng của quốc gia được cân nhắc và quyết định.

Trong chặng đường 80 năm kể từ ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội Việt Nam (6-1-1946 / 6-1-2026), Quốc hội đã tổ chức 138 kỳ họp thường lệ và 9 kỳ họp bất thường. Mỗi kỳ họp đều mang trong mình dấu ấn của thời đại, phản ánh sinh động yêu cầu của thực tiễn và trình độ phát triển của Nhà nước, xã hội. Tuy nhiên, trong dòng chảy liên tục ấy, có những kỳ họp vượt lên ý nghĩa thông thường, trở thành những dấu mốc lịch sử, gắn với các quyết sách mang tính khai mở, bước ngoặt hoặc định hình sự phát triển lâu dài của đất nước.

Ảnh minh họa: baolamdong.vn

Ảnh minh họa: baolamdong.vn

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I (tháng 3-1946): Quốc hội đầu tiên khai sinh nền dân chủ cộng hòa

Kỳ họp đầu tiên của Quốc hội đã diễn ra ngay sau cuộc Tổng tuyển cử (ngày 6-1-1946), mở ra kỷ nguyên mới cho nền dân chủ cộng hòa Việt Nam. Dù chỉ diễn ra trong một ngày (2-3-1946), kỳ họp này đã thực hiện những nhiệm vụ hệ trọng đầu tiên của cơ quan quyền lực nhà nước tối cao của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa non trẻ, trong đó có việc thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến, lập cơ quan Cố vấn đoàn và Ủy ban Kháng chiến toàn quốc, đồng thời bầu ra Ban Thường trực Quốc hội. Quốc hội cũng đã thông qua Tuyên ngôn của Quốc hội, trong đó đã trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân Việt Nam và thế giới rằng “Chủ quyền của nước Việt Nam độc lập thuộc về toàn thể nhân dân Việt Nam. Vận mệnh quốc gia Việt Nam là ở trong tay Quốc hội Việt Nam, chính thể của nước Việt Nam là chính thể dân chủ cộng hòa, có nhiệm vụ bảo vệ tự do và mưu đồ hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân”.

Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I (tháng 10, 11-1946): Thông qua Hiến pháp đầu tiên

Đây là kỳ họp mang tính lịch sử trong hoạt động lập hiến nước nhà, với nhiệm vụ trọng đại là thảo luận và thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam mới. Không khí nghị trường vào thời điểm đó vô cùng sôi nổi. Vào đầu kỳ họp, các đại biểu đã chất vấn Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội về nhiều vấn đề đối nội, đối ngoại cấp bách. Đó cũng là phiên chất vấn đầu tiên trong lịch sử của Quốc hội Việt Nam.

Đặc biệt, khi đưa Dự thảo Hiến pháp ra thảo luận, Quốc hội đã chứng kiến các luồng ý kiến đa dạng, đặc biệt là về các vấn đề liên quan đến mô hình chính thể, việc tổ chức Quốc hội một viện hay hai viện... Sau nhiều phiên thảo luận sôi nổi, cuối cùng Quốc hội đã nhất trí thông qua bản Hiến pháp năm 1946 với nội dung cơ bản khẳng định chủ quyền quốc gia, thiết lập chế độ dân chủ nhân dân, xác định quyền lực thuộc về nhân dân và bảo đảm các quyền tự do dân chủ cơ bản của nhân dân.

Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa I (tháng 12-1953): Kỳ họp duy nhất diễn ra ngoài Thủ đô Hà Nội

Đây là kỳ họp duy nhất của Quốc hội được tổ chức ngoài Thủ đô Hà Nội. Kỳ họp được tổ chức tại xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, trung tâm của Thủ đô kháng chiến trong những năm cam go của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Việc Quốc hội rời Hà Nội để họp giữa chiến khu không chỉ xuất phát từ điều kiện chiến tranh mà còn mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: Quốc hội luôn gắn bó với nhân dân và hoạt động không ngừng ngay trong hoàn cảnh khốc liệt nhất.

Kỳ họp thứ mười một, Quốc hội khóa I (tháng 12-1959): Thông qua Hiến pháp năm 1959-nền tảng để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước ở miền Nam

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ và hòa bình lập lại ở miền Bắc (năm 1954), đất nước ta bước sang giai đoạn mới với miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội và miền Nam tiếp tục đấu tranh thống nhất. Hiến pháp năm 1946 tuy đã hoàn thành sứ mệnh trong kháng chiến nhưng không còn phù hợp đầy đủ với tình hình mới của cách mạng. Vì vậy, Kỳ họp thứ mười một, Quốc hội khóa I đã diễn ra với trọng trách thông qua bản Hiến pháp mới. Ngày 31-12-1959, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể Quốc hội đã nhất trí biểu quyết thông qua Hiến pháp năm 1959-bản Hiến pháp thứ hai của nước ta. Hiến pháp năm 1959 đã kế thừa tinh thần dân chủ của Hiến pháp năm 1946 đồng thời phản ánh đầy đủ thực tiễn mới của chế độ ta, xác lập rõ hơn vai trò, quyền hạn của Quốc hội và bộ máy nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đặt nền tảng pháp lý vững chắc để miền Bắc trở thành hậu phương lớn cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam.

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI (tháng 6, 7-1976): Đặt dấu mốc thống nhất đất nước về pháp lý và thể chế

Sau Đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, trên lãnh thổ nước ta tồn tại hai chính quyền: Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa ở miền Bắc và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở miền Nam. Nhiệm vụ cấp thiết đặt ra là phải thống nhất đất nước về pháp lý và thể chế. Tháng 11-1975, Hội nghị Hiệp thương chính trị giữa đại biểu hai miền đã họp tại Sài Gòn, nhất trí cần sớm tổ chức Tổng tuyển cử trong cả nước để bầu ra Quốc hội chung thống nhất. Ngày 25-4-1976, cuộc Tổng tuyển cử tự do trên phạm vi cả nước đã bầu được 492 đại biểu Quốc hội khóa mới. Từ ngày 24-6 đến 3-7-1976, Quốc hội khóa VI đã họp Kỳ họp thứ nhất tại Hà Nội. Đây là một trong những kỳ họp lịch sử khi Quốc hội thay mặt nhân dân cả nước quyết định những vấn đề nền tảng của quốc gia thống nhất. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về đổi quốc hiệu, quy định rõ về quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, thủ đô của nước Việt Nam thống nhất, đồng thời bầu ra bộ máy nhà nước thống nhất trên cả nước.

Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội khóa VI (tháng 12-1980): Thông qua Hiến pháp thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Sau khi thống nhất, đất nước tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Yêu cầu đổi mới hiến pháp trở nên bức thiết nhằm thể chế hóa những thay đổi lớn về hệ thống chính trị và kinh tế. Trải qua nhiều vòng thảo luận và chỉnh lý dự thảo, Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội khóa VI đã được triệu tập để quyết định thông qua Hiến pháp năm 1980. Đây là bản Hiến pháp thứ ba của nước ta, được Quốc hội phê chuẩn nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên cả nước. Bản Hiến pháp năm 1980 đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tổ chức bộ máy nhà nước, khẳng định vai trò lãnh đạo tập thể của Hội đồng Nhà nước, vừa là tập thể lãnh đạo cao nhất, vừa là nguyên thủ quốc gia tập thể và nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo đảm chuyên chính vô sản.

Kỳ họp thứ mười một, Quốc hội khóa VIII (tháng 3, 4-1992): Thông qua Hiến pháp của thời kỳ đổi mới

Kể từ năm 1986, đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện. Trong bối cảnh đó, Hiến pháp năm 1980 bộc lộ nhiều điểm không còn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong tình hình mới. Do đó, Quốc hội khóa VIII đã lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp và khẩn trương soạn thảo bản hiến pháp mới. Sau quá trình chuẩn bị và thảo luận kỹ lưỡng, Kỳ họp thứ mười một, Quốc hội khóa VIII đã thông qua Hiến pháp năm 1992-bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, mở đường cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Bản Hiến pháp mới thể hiện rõ sự đổi mới tư duy khi thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991) và đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng. Hiến pháp khẳng định mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, phát huy dân chủ XHCN, phân định rõ hơn chức năng nhiệm vụ các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, đồng thời ghi nhận nền kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường định hướng XHCN.

Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XI (tháng 10, 11-2006): Dấu mốc lập pháp mở đường cho hội nhập quốc tế sâu rộng

Tại Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XI, Quốc hội đã phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Đây là thời khắc đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của Việt Nam theo hướng hội nhập toàn diện vào hệ thống thương mại đa phương với những tác động sâu sắc và lâu dài đối với mô hình phát triển của đất nước. Đây không chỉ là sự kiện đối ngoại quan trọng mà còn là kết quả của một quá trình chuẩn bị công phu, bền bỉ kéo dài hơn một thập kỷ đàm phán, cải cách thể chế và điều chỉnh chính sách kinh tế trong nước. Điểm đặc biệt của Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XI không chỉ nằm ở một quyết định lịch sử mà còn ở khối lượng và chất lượng công việc lập pháp đồ sộ nhằm nội luật hóa và hài hòa hóa pháp luật Việt Nam với các cam kết WTO và thông lệ quốc tế với việc xem xét, thông qua và sửa đổi hàng loạt đạo luật quan trọng trong các lĩnh vực then chốt như thương mại, đầu tư, doanh nghiệp, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, hải quan, thuế, dịch vụ và tài chính-ngân hàng...

Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XIII (tháng 10, 11-2013): Thông qua Hiến pháp năm 2013, nền tảng cho giai đoạn phát triển mới

Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XIII đã thảo luận và biểu quyết thông qua Hiến pháp năm 2013 với rất nhiều điểm đổi mới quan trọng, thể hiện rõ bước phát triển mới của Nhà nước ta trong thời kỳ hội nhập sâu rộng. Bản Hiến pháp này kế thừa những giá trị lớn của các hiến pháp trước đây (các năm: 1946, 1959, 1980, 1992) đồng thời bổ sung, phát triển nhiều nội dung mới về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực và kinh tế-xã hội. Hiến pháp năm 2013 xác định rõ hơn nguyên tắc tổ chức Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân và hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trong giai đoạn mới.

Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội khóa XV (tháng 1-2022): Dấu mốc đổi mới phương thức hoạt động, Quốc hội hành động vì yêu cầu cấp bách của đất nước

Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của Quốc hội khóa XV là kỳ họp bất thường đầu tiên trong 76 năm hoạt động của Quốc hội Việt Nam, đánh dấu lần đầu tiên Điều 83 Hiến pháp năm 2013 về kỳ họp bất thường được kích hoạt. Kỳ họp diễn ra trong bối cảnh đất nước chịu tác động nặng nề của đại dịch Covid-19, nền kinh tế đối mặt với nhiều khó khăn, đứt gãy chuỗi cung ứng, doanh nghiệp và người dân cần những quyết sách kịp thời để phục hồi và phát triển. Trước yêu cầu đó, Quốc hội đã chủ động ra quyết định trong tình huống đặc biệt, thể hiện rõ vai trò trung tâm của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đồng hành với Chính phủ, nhân dân vượt qua giai đoạn thử thách. Điểm nhấn nổi bật của Kỳ họp bất thường lần thứ nhất là việc Quốc hội đã xem xét và thông qua nhiều quyết sách quan trọng trong thời gian rất ngắn, nhưng vẫn bảo đảm chất lượng và sự đồng thuận cao, đặc biệt là Nghị quyết về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội với quy mô lớn, có tính chất tổng thể và dài hạn, tạo “đòn bẩy” quan trọng để phục hồi tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội và ổn định kinh tế vĩ mô.

Kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa XV (năm 2025): Sửa đổi Hiến pháp năm 2013, mở đường cho cải cách bộ máy chính quyền địa phương

Điểm nhấn nổi bật và có ý nghĩa lịch sử sâu sắc của Kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa XV là việc Quốc hội đã thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, với tỷ lệ đồng thuận tuyệt đối. Sự đồng thuận ấy không chỉ mang giá trị về mặt con số mà còn phản ánh sự chín muồi của thực tiễn và quyết tâm chính trị trong việc đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Nghị quyết sửa đổi Hiến pháp được thông qua tại Kỳ họp thứ chín đã tạo cơ sở hiến định quan trọng cho việc đổi mới, sắp xếp và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chính thức được triển khai từ ngày 1-7-2025. Đây là một bước chuyển lớn trong tư duy tổ chức chính quyền, nhằm khắc phục những bất cập kéo dài trong mô hình quản lý nhiều tầng nấc, đồng thời tăng cường phân cấp, phân quyền, phát huy tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại. Kết quả của Kỳ họp thứ chín cũng đặt ra yêu cầu phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật để hiện thực hóa các quy định mới của Hiến pháp, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn tổ chức bộ máy, phân quyền, phân cấp và quản lý nhà nước ở địa phương. Từ đó, một chương trình lập pháp với cường độ cao chưa từng có đã được xác lập với những kỷ lục tại Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV với tổng số 51 luật, 39 nghị quyết được Quốc hội thông qua.

Trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, Quốc hội Việt Nam đã không ngừng phát huy vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước nhà. Mỗi nhiệm kỳ, mỗi kỳ họp Quốc hội đều đóng góp những quyết sách quan trọng, nhưng có những kỳ họp đã trở thành dấu mốc lịch sử in đậm trong ký ức dân tộc. Từ phiên họp đầu tiên khai sinh chính thể dân chủ cộng hòa năm 1946, những kỳ họp lập hiến kiến tạo nền tảng pháp lý qua các thời kỳ đến phiên họp quyết định thống nhất non sông năm 1976 và những kỳ họp đổi mới, tăng tốc lập pháp trong thời kỳ hội nhập-tất cả đều minh chứng sinh động cho chặng đường 80 năm đồng hành cùng dân tộc của Quốc hội Việt Nam. Những kỳ họp lịch sử đó không chỉ khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của Quốc hội trong những bước ngoặt vận mệnh quốc gia mà còn tiếp thêm niềm tin, động lực để Quốc hội các khóa tiếp tục đổi mới, hành động vì lợi ích của nhân dân, xứng đáng với truyền thống “Quốc hội của dân, do dân, vì dân” suốt 8 thập kỷ qua. Nhìn lại chặng đường 80 năm, chúng ta càng tự hào về truyền thống vẻ vang của cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, đồng thời tin tưởng rằng Quốc hội sẽ tiếp tục đóng vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong những thập kỷ tới.

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/chinh-tri/cac-van-de/nhung-ky-hop-mang-dau-an-lich-su-trong-tien-trinh-80-nam-cua-quoc-hoi-viet-nam-1020345