Những đôi tay đan dệt hồn núi
Dưới chân núi Lăm Bour, xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng có một buôn làng của người M’nông nổi tiếng với nghề đan lát truyền thống. Từ những đôi tay chai sần nhưng động tác đẹp như múa, các nghệ nhân đã cho ra đời những sản phẩm gần gũi với thiên nhiên, có kiểu dáng, hoa văn vừa độc đáo, vừa huyền bí.

Nghệ nhân Ntơr Ha Bang thổi kèn bầu trong lúc nghỉ tay đan lát. Ảnh: H.N.T
Kết tinh giữa thiên nhiên và văn hóa
Nghề đan lát từ bao đời là nét văn hóa đặc trưng của đồng bào Tây Nguyên. Sản phẩm đan lát không chỉ được dùng trong sinh hoạt, lao động, sản xuất hằng ngày, mà còn được dùng để trang trí, làm quà biếu, quà tặng và là quà hồi môn không thể thiếu trong lễ cưới của các dân tộc...
Nghệ nhân Ntơr Ha Bang, sinh năm 1958, người M’nông tài hoa với nghề đan lát, cho biết: “Từ xưa, đàn ông M’nông phải biết đan lát, săn bắn, bắt cá cũng như đàn bà phải biết dệt vải, làm rẫy, nuôi con. Ngày trước, đàn ông đến tuổi trưởng thành đan được chiếc gùi thì mới lấy được vợ”.
Những sản phẩm đan lát như nia, rá, rổ, gùi, bình đựng rượu cần, nơm, rọ bắt cá, túi xách... là sự kết tinh của núi rừng và văn hóa tộc người. Trông chúng khá đơn sơ, nhưng để làm ra một sản phẩm phải mất nhiều thời gian và công sức. Từ những cây mây, lồ ô, giang, nứa ở tận rừng sâu, nghệ nhân phải xử lý qua nhiều công đoạn mới trở thành nguyên liệu cho các sản phẩm. Những loài cây này ngày càng hiếm, hơn nữa, không phải cây nào cũng dùng được, nghệ nhân phải chọn cây đủ tuổi, không bị sâu mọt. Cây già quá thì thân cứng, nan dễ gãy, khó đan. Ngược lại, nếu non quá, nan sau khi chẻ, phơi khô sẽ teo lại, không đủ độ dẻo dai. Cây đủ tuổi được chặt thành từng đoạn, ngâm dưới suối, phơi nắng cho thật khô để không bị co rút. Riêng dây mây được cuộn thành khoanh rồi gác lên bếp, khi cần dùng mới đem ra cắt. Tiếp theo là công đoạn chẻ nan. Tùy từng sản phẩm mà nan có kích thước khác nhau. Khi chẻ nan phải đều tay, chuốt cho bóng bẩy, mềm mại. Để tạo màu cho hoa văn khi đan, những sợi nan được nhuộm màu bằng cách giã nát lá rừng rồi bôi lên từng sợi, ngâm dưới bùn vài ngày, sau đó, sợi nan sẽ có màu đen bóng đẹp mắt. Muốn tạo màu nâu đậm thì quét lá và để nan trên gác bếp một thời gian. Màu đậm hay nhạt tùy thuộc vào lượng lá rừng được xát lên nan.
Bằng đôi tay khéo léo, thuần thục, người nghệ nhân tỉ mẩn đan từng sợi nan, lồng ghép với nhau để tạo ra các sản phẩm. Đây là công đoạn kỳ công nhất, cũng là công đoạn thể hiện tay nghề và sự sáng tạo của mỗi nghệ nhân. Tùy theo cảm xúc, trí tưởng tượng, óc thẩm mỹ và truyền thống văn hóa mà những đôi tay ấy đan thành các hình dạng, hoa văn khác nhau. Hoa văn chủ yếu là kỷ hà, lá đậu, cành đa, hình tam giác, hình vuông, hình đa giác... Mỗi dân tộc có hệ hoa văn và màu sắc riêng, tạo nên sự độc đáo và đa dạng cho các sản phẩm đan lát.
Trước đây, mọi vật dụng dùng trong sinh hoạt hằng ngày và trong lao động, sản xuất đều là sản phẩm đan lát. Về sau, các sản phẩm bằng nhôm, inox, thủy tinh... dần thay thế. Ngày nay, theo xu hướng phát triển du lịch, các nghệ nhân của buôn làng như ông Ntơr Ha Bang chuyển sang làm sản phẩm du lịch. Sản phẩm du lịch thường cầu kỳ, tốn nhiều công sức, nhưng bán được giá cao. Để đáp ứng thị hiếu, sản phẩm không chỉ bền đẹp mà còn mang tính nghệ thuật độc đáo, thể hiện bản sắc riêng. Những chiếc gùi, nia, bình, giỏ, túi... lồng ghép nhiều hoa văn, biểu tượng, ký hiệu đặc biệt, vừa sinh động, vừa bí ẩn, như chính kho tàng văn hóa của người M’nông.
Nghệ nhân Ntơr Ha Bang cho biết, từ nhỏ, ông thường quan sát cha ông mình đan lát, lâu dần quen tay rồi thành thạo. Đến nay, dù đã gần 70 tuổi, ông vẫn miệt mài đan lát mỗi ngày. “Để giữ cho đôi tay linh hoạt, cho lớp trẻ nhìn thấy mà học hỏi, để giữ nghề của tổ tiên của dân tộc mình” - Ông bộc bạch.

Chiếc gùi không thể thiếu trong các nghi lễ của đồng bào Tây Nguyên. Ảnh: H.N.T
Mở hướng phát triển từ nghề đan lát
Từ đầu năm 2024, xã Đam Rông 4 đã thành lập Tổ hợp tác mây tre đan thôn Liêng Trang. Trong tổ, người lớn tuổi nhất là nghệ nhân Liêng Jrang Ha Krai, ngoài 60 tuổi. Ông biết đan lát từ khi 15 tuổi, đôi bàn tay gắn bó với sợi mây, giang gần nửa thế kỷ; người trẻ nhất là Ntơr Ha Dũng, vừa tròn 30 tuổi. Các thành viên trong tổ hỗ trợ nhau, người đi tìm cây rừng, người xử lý nguyên liệu, người đan, người tìm đầu ra cho sản phẩm...
Nghệ nhân Cil Nếu, Tổ trưởng Tổ hợp tác mây tre đan thôn Liêng Trang cho biết: “Tổ chú trọng làm các sản phẩm du lịch, tuy mất nhiều công sức và thời gian hơn các sản phẩm dùng trong sinh hoạt, nhưng được ưa chuộng, dễ bán. Đặc biệt là chiếc gùi M’nông được các dân tộc khác và kiều bào yêu thích, đặt hàng nhiều. Mỗi chiếc gùi cần 5-7 ngày để đan, những chiếc to hơn hoặc có nắp mất nhiều thời gian hơn, vì vậy, số sản phẩm làm ra không đủ đáp ứng đơn đặt hàng”.
Nắm bắt thị hiếu đó, cùng với sự hỗ trợ của địa phương, nghệ nhân Cil Nếu làm hồ sơ đề nghị công nhận chiếc gùi của thôn Liêng Trang là sản phẩm OCOP 3 sao, nhằm tăng thêm giá trị và niềm tin của người tiêu dùng.
Nghệ nhân Liêng Jrang Ha Krai hồ hởi cho biết, từ khi vào Tổ hợp tác mây tre đan, ông chỉ tập trung đan; những công đoạn khác như tìm nguyên liệu, tìm đầu ra đã có người lo, nên ông đan được nhiều hơn, cũng nhận được nhiều đơn hàng hơn. Nghệ nhân Cil Nếu chia sẻ thêm, thời gian tới, tổ sẽ mở lớp dạy đan lát miễn phí cho lớp trẻ, do chính những nghệ nhân có tay nghề như ông Liêng Jrang Ha Krai trực tiếp hướng dẫn, để họ vừa có thêm thu nhập, vừa gìn giữ được nghề truyền thống của cha ông.
Giờ đây, đi khắp các buôn làng Tây Nguyên, không khó để bắt gặp hình ảnh người trẻ, người cao tuổi miệt mài bên những sợi mây tre. Một tín hiệu đáng mừng là một số thanh niên đã quan tâm trở lại với nghề đan lát, tìm đến các nghệ nhân học nghề. Một số bạn trẻ xem đan lát là nghề, vừa làm sản phẩm phục vụ sinh hoạt, vừa phát triển sản phẩm du lịch, mở ra hướng đi lâu dài. Chàng trai Ntơr Ha Dũng tâm sự: “Hồi đó, mình không để ý vì thấy sản phẩm đan lát làm ra ít ai mua. Giờ làm sản phẩm du lịch, có thu nhập. Thỉnh thoảng, mình còn theo các nghệ nhân đi đan lát biểu diễn trong các dịp lễ hội, sinh hoạt của địa phương, của tỉnh, thấy vui và tự hào về nghề truyền thống của dân tộc mình”.
