Những dáng lính vùng biên
Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.
Mỗi người một nhiệm vụ, mỗi nơi một gian khó, nhưng ở họ có 1 điểm chung, ấy là luôn xuất hiện ở nơi người dân cần đến.
1. Năm 2023, tôi có hơn chục ngày lênh đênh cùng những người lính trong chuyến tuần tra, kiểm soát, thực thi pháp luật trên vùng biển miền Trung do Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 tổ chức.
Tàu CSB 4038 rẽ sóng qua Cù Lao, Chân Mây, Cồn Cỏ… rồi ngược về Lý Sơn, xuôi theo hướng Bình Định trước khi trở lại Cảng Hải đội 21 ở Núi Thành (Quảng Nam cũ). Suốt hải trình, biển là người bạn duy nhất của chúng tôi. Tàu chưa một lần cập đất liền.
Chuyến đi khi ấy tập trung vào nhiệm vụ chống khai thác IUU. Trên tàu có cảnh sát biển, biên phòng, kiểm ngư cùng các lực lượng chức năng, văn nghệ sĩ, nhà báo. Nhưng với tôi, điều đáng nhớ nhất lại là những cuộc gặp bất ngờ với những đồng hương giữa mênh mông biển nước.
Khi tàu đến vùng biển gần Bình Định, tôi chủ ý “nhảy tàu” để tìm gặp những ngư dân quê mình. Biển lúc ấy đã êm, không còn những con sóng dữ chực nuốt chiếc xuồng như những vùng biển trước.
Tín hiệu từ tàu cảnh sát biển vừa phát đi, chiếc tàu BĐ 91423-TS liền giảm tốc, đón chúng tôi lên tàu. Cá đối, cá sọc dưa tươi rói đầy khoang. Thuyền trưởng Nguyễn Thanh Nam, quê Quy Nhơn, cười rạng rỡ: “Trúng luồng cá, nên chuyến này được mùa”.
Giữa biển khơi, gặp đồng hương, nghe câu nói ấy bỗng thấy lòng mình cũng vui theo. Đoàn công tác tặng ngư dân ít nhu yếu phẩm và một lá cờ Tổ quốc. Lá cờ căng lên trong gió hôm ấy thật đẹp, có lẽ bởi nó hòa cùng nụ cười no ấm của những người vừa gặp một chuyến biển thuận lành.

Những người lính biển và cán bộ trong đoàn công tác liên ngành tặng cờ Tổ quốc cho ngư dân bám biển. Ảnh: Đ.L
Trong chuyến công tác ấy, tôi gặp anh Nguyễn Văn Tuấn - Thuyền trưởng Hải đội 2 thuộc BĐBP Bình Định. Tôi chú ý, anh là một trong những người thường xuyên “nhảy tàu” để đến với ngư dân.
Anh bảo, hằng ngày nhiệm vụ của anh và đồng đội vẫn thường như thế, lênh đênh vùng biển quê nhà, tuần tra, kiểm tra giám sát hành trình, nhắc ngư dân không được tắt thiết bị định vị, giám sát hành trình, không xâm phạm vùng biển nước ngoài.
“Vươn khơi bám biển nhưng phải tuân thủ pháp luật, nhất là không được sang vùng biển nước khác khai thác, góp phần tháo gỡ “thẻ vàng” EC” - anh chia sẻ.
Hơn chục ngày trên biển, tôi hiểu thêm rằng giữa trùng khơi, người lính vẫn luôn lặng lẽ sát cánh cùng ngư dân, để những con tàu ra khơi có thêm một điểm tựa giữa mênh mông sóng nước.
2. Đã nhiều lần theo thuyền ra Cù Lao Xanh, tôi vẫn luôn có cảm giác mỗi lần trở lại đảo tiền tiêu này là một lần gặp thêm một câu chuyện đẹp về những người lính.
Ở đó, bên cạnh nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ đảo, họ còn lặng lẽ đứng bên người dân trong những lúc cần thêm một bàn tay giúp đỡ.
Người dân kể về những người lính trẻ tặng bánh chưng, bánh tét ngày Tết, giúp neo giữ thuyền bè, chia gạo khi khó khăn, sắp xếp nơi tránh trú mỗi mùa bão đến. Mỗi lần ra đảo, tôi hay gặp ông Phan Văn Binh - nguyên Chủ tịch UBND xã Nhơn Châu.
Nhắc về lính, ông bảo rằng mấy chục năm qua, tình quân - dân trên đảo đã thành một phần máu thịt. “Trong gian nan, hoạn nạn, người dân đều có bộ đội xả thân giúp đỡ bà con” - ông nói.
Cuối năm ngoái, khi bão số 13 (Kalmaegi) quần thảo, hình ảnh những người lính ướt sũng giữa mưa gió lại trở nên quen thuộc. Người kéo thuyền, người chằng nhà, người dìu người già, bồng trẻ nhỏ đến nơi an toàn…
Nghệ nhân Ưu tú Trần Hữu Phước, một người gắn bó lâu năm với đảo, nói với tôi một câu ngắn mà nghe ấm cả lòng: “Có lính, người dân ở đây an tâm hơn hẳn”.
Và những người lính ấy vẫn tiếp tục công việc của mình. Mới tháng rồi, ngày 17-7, Đại đội hỗn hợp Cù Lao Xanh cùng các đơn vị trên đảo bắt đầu dựng nhà Đại đoàn kết tại thôn Đông cho bà Nguyễn Thị Bích Liên, một phụ nữ sống neo đơn.
Cởi ra bộ quân phục chỉnh tề, những người lính trẻ thoắt thành những người thợ xây. Người trộn vữa, người bưng từng viên gạch, chuyền ngói, dựng khung; mồ hôi thấm đẫm lưng áo giữa cái nắng hắt lên từ nền đất và những bức tường còn dang dở.
Những bàn tay vốn quen với súng, với thao trường, nay chai sần vì hồ vữa, nhưng động tác nào cũng nhanh nhẹn, rắn rỏi. Họ làm việc chẳng khác gì đang thực hiện một nhiệm vụ khác của người lính: Giúp dân có một mái nhà để trở về.
Đại úy Nguyễn Minh Trí - Chính trị viên Đại đội hỗn hợp Cù Lao Xanh - bảo anh em đang tranh thủ góp công, góp sức để căn nhà sớm hoàn thành, dự kiến cuối tháng 8 bàn giao.
Tôi nghĩ, rồi đây dưới mái nhà mới ấy sẽ có một người phụ nữ bớt đi một nỗi lo. Còn những viên ngói được đặt lên trong nắng gió Cù Lao Xanh hôm ấy, có lẽ sẽ giữ lại đâu đó dấu tay và những giọt mồ hôi của người lính.
3. Không chỉ ngoài biển, ở vùng biên giáp Campuchia, những người lính cũng ngày đêm giữ đất, giữ làng trong một nhịp sống lặng thầm. Cuối tháng 3-2026, lần đầu tôi đến Đồn Biên phòng Ia O. Đồn đứng chân bên sông Sê San, quản lý hơn 5 km đường biên tiếp giáp tỉnh Ratanakiri của Campuchia.
Những cột mốc nằm giữa rừng xanh, im lặng mà thiêng liêng. Ở đó, mỗi ngày của người lính bắt đầu và kết thúc bằng những cung đường tuần tra, những bước chân men theo biên giới.

Đoàn văn nghệ sĩ, nhà báo cùng các cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ia O tại cột mốc biên giới do Đồn phụ trách. Ảnh: Đ.L
Sau khi thăm cột mốc, tôi ra bãi sông Sê San. Bên kia bờ, đồn biên phòng nước bạn hiện ra giữa màu xanh của rừng. Dòng sông là đường biên, nhưng cũng là sợi dây nối những cộng đồng người Jrai vốn có quan hệ thân tộc từ bao đời. Hai bên vẫn gặp gỡ, sẻ chia, như những xóm làng chỉ cách nhau một dòng nước.
Thiếu tá Nguyễn Đức Anh - Phó Đồn trưởng Đồn Biên phòng Ia O - kể rằng, lực lượng biên phòng 2 nước thường xuyên phối hợp, gặp gỡ, hỗ trợ nhau những lúc khó khăn. Chính quyền hai bên duy trì các hoạt động đối ngoại, kết nghĩa làng - làng, trao quà, thăm hỏi.
Năm 2025, đơn vị tham mưu tổ chức 2 lần đối ngoại giữa xã Ia O và xã Nhang; trao 91 phần quà, trị giá hơn 140 triệu đồng cho chính quyền, LLVT và người dân hai bên biên giới. Những con số rồi sẽ nằm lại trong báo cáo, còn điều đọng lại với tôi là cảm giác về một đường biên đang được giữ bằng cả sự tỉnh táo và tình người.
Tôi nhớ mãi đêm Ia O hôm ấy, mưa bất chợt đổ xuống. Tôi ngồi nhìn màn nước trắng xóa, hỏi một người lính trẻ: “Mưa thế này cũng đi tuần à?”. Chàng lính trẻ cười, đáp: “Dạ, càng mưa càng phải đi. Mưa dễ bị lợi dụng...”.
Tôi nhìn ra ngoài, những con đường đất ban ngày giờ hẳn đã hóa thành những dải bùn trơn trượt. Những lối mòn xuyên rừng chìm trong bóng tối. Vậy mà ở đâu đó, vẫn có những bước chân đang đi; những ánh đèn pin lia qua thân cây; những đôi mắt vẫn “thức” giữa mưa rừng.
Theo những hành trình tôi đi qua, từ biển khơi đến nơi đảo xa, hay ở miền biên giới heo hút, ở đâu những người lính vẫn lặng thầm đi về phía gian khó, để phía sau mỗi bước chân là một vùng bình yên cho nhân dân.


