Những cây cầu xưa
Cầu là loại hình kiến trúc dân dụng có từ rất lâu đời ở nước ta. Từ những năm tháng xa xưa, bản làng Lạng Sơn đã có những chiếc cầu bằng đá hoặc gỗ bắc qua suối phục vụ nhu cầu đi lại của Nhân dân. Đến nay nhiều cây cầu đã không còn dấu tích, nhưng cũng có những cây cầu trở thành di sản quý giá minh chứng cho lịch sử phát triển lâu đời, bản sắc văn hóa độc đáo của tỉnh.
Ngày nay, rất khó để tìm ra dấu tích những cây cầu xưa của xứ Lạng trong các sách địa chí cổ. Chúng ta biết về loại hình di sản này chủ yếu qua khảo sát thực địa hoặc qua văn bia cổ còn sót lại ở các vị trí xây cầu.
Những cây cầu trong ký ức
Năm Bảo Thái thứ 5 (1724), các quan Trấn thủ và khách buôn hai nước (Việt – Trung) ở phố Kỳ Lừa đã cùng nhau bắc một cây cầu đá để Nhân dân qua suối vào phố chợ, đi lại canh tác trên cánh đồng. Ngày nay ít ai biết chi tiết về dáng vẻ của cầu đá Kỳ Lừa do cầu bị hư hỏng, thay thế đã lâu, những chữ còn đọc được trên văn bia cũng không cho biết quy mô, diện mạo của cầu. Dấu tích hiện còn của cầu là một tấm bia bốn mặt hình khối hộp cao 1,4m ngay trong chợ Giếng Vuông (phường Kỳ Lừa). Bia được tạo hình, chạm khắc hoa văn rất đẹp và tinh xảo, ghi việc làm cầu. Người đứng ra lập bia là Đốc trấn Lạng Sơn Đinh Phụng Ích.

Bia cầu đá Kỳ Lừa tạo tác năm Bảo Thái thứ 5
Vào cuối năm 1769 ở vùng Dã Nham, quan tri châu Hà Quốc Tán thuộc dòng họ Hà Thổ ty đã làm một cây cầu khá quy mô bắc qua suối Khằm Ngàn. Kiến trúc cầu tuy đơn giản nhưng lại rất chắc chắn. Cầu có 2 nhịp, dài khoảng 6m, rộng 2,5 m, ba trụ cầu xếp bằng những khối đá lớn hình khối hộp chữ nhật. Mặt cầu ghép bằng những thanh đá hình chữ nhật dài, phẳng nhẵn. Đi liền với cầu là một tấm bia bốn mặt lập năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771) khắc ghi việc làm cầu, tên tuổi, chức vị những người hưng công, đóng góp tiền của. Ngày nay, cả cầu và bia đá vẫn đang được bảo tồn nguyên trạng tại thôn Bản Dạ, xã Yên Phúc.
Cùng thời gian này, tại xã Hữu Thu, châu Thoát Lãng xưa (nay là thôn Nà Mạt, xã Na Sầm) cũng có một cây cầu mới được bắc qua suối. Trải qua hàng trăm năm tồn tại, vì nhiều lý do khác nhau, cây cầu xưa đã không còn dấu tích. Nhưng ở vị trí xây cầu vẫn còn một tấm bia ma nhai khắc trên vách đá bên suối. Chữ trên bia tuy rất mờ nhưng vẫn đọc được một số thông tin cơ bản về việc dựng cầu. Theo đó, vào năm thứ 30, triều Cảnh Hưng (1769), các vị quan, thiện nam tín nữ trong vùng đã bắc một cây cầu qua suối ở nơi “ruộng trũng, đi lại khó khăn, nhiều suối khe, bùn lầy cách trở đã nhiều năm kéo dài..” để nhân dân đi lại. Coi làm cầu là việc thiện “tăng đức hạnh, tu nhân, tích điều phúc” nên có gần 50 người ủng hộ. Văn bia khắc ghi chi tiết tên tuổi, chức vị, số tiền của những người đã công đức.
Cũng vào thời Cảnh Hưng, ở xã Mãnh Xá, tổng Vĩnh Lại, phủ Tràng Khánh có một cây cầu đá nhỏ bắc qua khe suối, gọi là cầu đá Gò Y. Về sau, dân làng quen gọi là cầu Hin, nghĩa là “cầu đá”. Những năm 90 của thế kỷ trước, cây cầu này vẫn còn dưới dạng phế tích, bị đất đá vùi lấp một phần. Các tư liệu khảo sát lúc đó cho biết cầu được tạo tác khá đơn sơ bằng cách đặt hai thanh đá lên trên hai trụ đá vững chắc. Ngày nay, ở ngay trên vách đá gần UBND xã Phú Xá cũ vẫn còn tấm bia ma nhai tạo tác năm Cảnh Hưng thứ 38 (1777) ghi việc làm cầu. Lý do chính là bởi có một dòng suối chảy ngang con đường đá khiến người dân địa phương qua lại rất khó khăn, vất vả. Một số vị chức sắc ở đây đã hưng công đóng góp tiền của cùng nhân dân làm một cây cầu đá giúp cho việc qua lại được thuận tiện, dễ dàng hơn.
Thời kỳ Cận đại (cuối thế kỷ XIX), Lạng Sơn xuất hiện thêm một cây cầu đá nữa bắc qua con suối ở thôn Hương Bài (nay thuộc thôn Còn Pheo xã Thụy Hùng), nay gọi là cầu Khao. Đây là cây cầu đá xuất hiện muộn nhất của Lạng Sơn. Cầu nằm ngay cạnh tuyến đường Thụy Hùng đi Phú Xá (cũ), dài 7 m, rộng 3m, cao tầm 3m. Kiến trúc của cầu vẫn theo kiểu truyền thống nhưng bắt đầu mang nét hiện đại với hình vòm cuốn, mặt cầu ghép bằng các thanh đá lớn. Gắn với cầu là một tấm bia thể khối nhỏ nói về việc làm cầu tháng 5 năm Thành Thái thứ 7 (1895). Ngày nay tuy cầu không còn sử dụng nhưng còn rất nguyên vẹn, chắc chắn.
Ngoài những cây cầu đá, Lạng Sơn còn có rất nhiều cầu gỗ nhỏ do Nhân dân tự bắc để phục vụ nhu cầu đi lại. Cho đến nay, Lạng Sơn không có cây cầu gỗ cổ nào còn tồn tại do phần lớn đều làm tạm bợ. Nhưng trước đây ở xã Long Đống, huyện Bắc Sơn (nay là xã Bắc Sơn) từng có một cây cầu gỗ khá quy mô bắc qua con suối rộng. Những bức ảnh tư liệu thời Pháp thuộc cho thấy cầu được làm bằng gỗ theo kiểu “thượng gia, hạ kiều” (trên nhà, dưới cầu). Đó là loại cầu có mái che rất độc đáo của vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung bộ. Tương truyền, cầu có từ năm Chính Hòa thứ thứ 23 (1763). Cầu không chỉ để đi lại mà còn là nơi dừng chân, nghỉ ngơi của người qua đường khi nắng mưa. Tuy nhiên cây cầu này khá đơn sơ chứ không quy mô, kiên cố như những cây cầu ở vùng đồng bằng. Đó là dấu tích về sự di cư của miền xuôi lên miền núi và sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người cư trú ở vùng Bắc Sơn.
Gìn giữ cho muôn đời sau
Với những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học ẩn chứa trong di tích, những cây cầu xưa của Lạng Sơn đã trở thành một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa xứ Lạng. Từ nhiều năm trước đây, cầu và văn bia được tỉnh đưa vào danh mục quản lý, xếp hạng các cấp. Trong đó cụm di tích cầu đá Xuân Mai được xếp hạng di tích cấp tỉnh từ năm 2002. Các văn bia đều đã được Bảo tàng tỉnh dập, dịch phục vụ nghiên cứu, phát huy giá trị của di tích. Không chỉ là phương tiện giao thông, những cây cầu xưa còn là nơi kết tinh trí tuệ, bàn tay khéo léo của cha ông ta từ hàng trăm năm trước. Với những nét riêng trong thiết kế, tạo dáng, trang trí… các di tích đó mang bản sắc văn hóa rất đặc trưng của vùng quê Xứ Lạng - tỉnh miền núi biên giới có sự hòa hợp, giao thoa mạnh mẽ giữa các tộc người, giao thương phát triển... Đồng thời in đậm dấu ấn lịch sử, phản ánh sâu sắc đời sống văn hóa cộng đồng của đồng bào các dân tộc tỉnh qua các thời kỳ. Ngày nay, một số di tích như: cầu đá Xuân Mai, cầu Khao, bia cầu Hin... đã trở thành điểm đến trong các tour du lịch tìm về cội nguồn, các hoạt động trải nghiệm khám phá đời sống của cư dân xứ Lạng những năm tháng xa xưa. Trong dòng chảy của lịch sử đương đại, các di tích cầu xưa vẫn trầm mặc, lặng lẽ, góp phần gắn kết quá khứ với hiện tại để làm nên góc nhìn đa chiều về miền đất, con người xứ Lạng hôm nay.
































