Những bà bán rượu ở chợ phiên Tây Bắc

Rừng núi Tây Bắc mang một vẻ đẹp hùng vĩ, choáng ngợp cảm xúc và mắt nhìn. Ai cũng có thể nhìn thấy và hiểu được điều đó. Còn tâm hồn của con người Tây Bắc, muốn thấu hiểu chỉ có cách cà lơ phất phở cả ngày cả buổi ở các phiên chợ miền cao trong dịp du xuân.
VĂN HÓA HỌP CHỢ MIỀN CAO
Chợ có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Việt. Chợ không chỉ là chốn giao thương, buôn bán mưu sinh hay kiếm tiền của cánh chạy chợ, cánh buôn chuyến hay các thương nhân như cách gọi sang trọng của thời nay.
Nó là nơi con người gặp gỡ nhau ở một phạm trù không gian rộng mở hơn, không bị giới hạn bởi lũy tre hay cổng làng. Từ thời nguyên thủy mới dựng làng lập ấp, chợ đã xuất hiện trong đời sống. Ở đó, hàng hóa của miền xuôi, miền ngược, trong Nam ngoài Bắc, trên Đông dưới Đoài đều hiện diện.

Ở chợ người ta không chỉ bán thứ mình có, mua thứ mình cần mà còn là cơ hội tiếp xúc với thế giới bên ngoài, như một cổng thông tin kết nối nội giới và ngoại giới, vốn bị giới hạn bởi văn hóa làng xã truyền thống. Từ nhà, qua cổng làng, ra chợ là một hành trình xa xăm, đầy háo hức.
Bây giờ, chợ truyền thống ngày càng hiếm hoi bởi sự xuất hiện và thay thế của siêu thị, cửa hàng tiện lợi, trung tâm thương mại hay chợ điện tử. Mọi xúc tiến đều có thể thực hiện trong không gian kín tại nhà, con người bị bao bọc bằng sóng 5G thay vì lũy tre làng.
Nhưng may mắn các phiên chợ ở miền cao Tây Bắc vẫn giữ được tinh thần nguyên thủy của mình, để những kẻ du xuân miền sơn cước lại có được một mảnh ký ức tưởng chừng đã bị xóa trắng. Chợ tình Khâu Vai, chợ phiên Cán Cấu, chợ phiên Bắc Hà, chợ phiên Đồng Văn, chợ phiên Lũng Phìn vẫn tồn tại bất chấp cảnh “tang hải thương điền”.
Ở vùng cao Tây Bắc, chợ phiên không đơn thuần là nơi mua bán, mà là một không gian văn hóa sống. Cứ đến ngày chợ, đồng bào các dân tộc lại vượt núi, băng suối, khoác lên mình những bộ trang phục truyền thống đẹp nhất để gặp gỡ, trao đổi, ăn uống và trò chuyện.
Ở đây tràn trề bản sắc văn hóa nguyên bản, ẩm thực độc đáo, sinh hoạt cộng đồng đặc trưng và những câu chuyện đời sống gắn với từng gian hàng, từng khu chợ. Bước vào một chợ phiên, chúng ta đã có thể chạm vào đời sống văn hóa và tinh thần của người H’mông, người Dao, người Hà Nhì, người Tày, người Thái…
Ở không gian đó, thế giới vật chất và tinh thần được hòa hợp bởi một thứ men kỳ diệu: men rượu ngô. Thứ men đó có lẽ là ngôn ngữ chung của các dân tộc thiểu số Tây Bắc. Họ có thể khác nhau về trang phục, vùng cư trú, nề nếp sinh hoạt ăn ở, nhưng lại uống cùng một loại rượu ngô men lá.

Chỉ cần bước chân vào chợ là đã thấy bung biêng bởi hương thơm nồng mùi thảo dược của rượu ngô trong can, trong bình và trong bát. Mùi hương đó bay nồng nàn suốt không gian chợ phiên nằm lúp xúp dưới những dãy núi sừng sững chọc thẳng tầng trời.
CHỊ EM BẠN DÌ RỦ NHAU ĐI UỐNG RƯỢU
Rượu ngô với người H’mông còn quý hơn cơm bởi đấy chính là “chăn bông nước”, là “bếp lửa không khói”, là “nguồn sạc pin” giúp cho họ có thể chống chọi lại cái lạnh cắt da cắt thịt miền sơn cước. Họ uống rượu ngô ở nhà, trên nương, trong rừng và đặc biệt là ở chợ phiên cuối tuần, cuối tháng.
Đối với người H’mông, chợ phiên không hẳn là một ngày đi chợ bình thường, mà với họ, đó là một dịp để gặp nhau, trò chuyện, gần như một ngày hội náo nhiệt, và hẳn là được trông mong lắm!
Thế nên, họ ăn mặc rất đẹp, nam mặc bộ áo màu chàm, đầu đội mũ nồi cũng màu chàm, tay xách lồng họa mi. Còn nữ thì cứ váy xống thổ cẩm sặc sỡ sắc màu, lanh canh leng keng vòng bạc, kiềng bạc, miệng cười lấp lóa những chiếc răng bịt vàng lấp lánh đầy kiêu hãnh.

Họ đi chợ phiên trong hình thái đẹp đẽ không phải để mua sắm như khái niệm “đi chợ” của miền xuôi, mà để gặp nhau, ngắm nhau và uống rượu ngô. Uống rượu không phải vì thèm mà là như một thói quen, như thể đấy là “miếng trầu mở đầu câu chuyện”.
Họ uống rượu ở các quán ăn trong chợ, bán đủ cả bún, phở, thắng cố nấu trong những chiếc vạc gang lúc nào cũng tỏa sương khói mịt mù. Nhưng điểm uống rượu ưa thích nhất lại là dãy bán rượu ngô trong chợ, với những người đàn bà đứng đằng sau dãy can nhựa 20 lít, được cắm vòi để hút rượu và bát đựng.
Bên kia chiếc can là cánh đàn ông mặc áo chàm, mắt đắm đuối nhìn dòng rượu trút ra. Không hiểu sao, những người đàn bà uống rượu ngô lại thường đứng, chứ không ngồi. Họ đứng cả phiên chợ mà chẳng hề thấy mỏi chân, khi uống rượu cùng khách cũng phải đứng.

Khách mua rượu đa phần là đàn ông. Đương nhiên rồi, bởi nếu những người bán rượu là đàn ông, thì để chiều khách, họ sẽ phải mời khách nếm thử, rồi cụng chén với khách. Người H’mông lại có tính hiếu khách, cà kê như vậy, có lẽ, sẽ hết buổi chợ. Rượu chả biết bán được bao nhiêu nhưng người mua kẻ bán cùng lăn quay ra đất mà ngủ, vì say!
Chính vì vậy, đàn bà bán rượu, người ta cũng “lượng tình” mà tiếp khách vừa phải, hơn nữa, cái miệng của người đàn bà nó cũng nhẹ nhàng, khéo léo mời khách hơn là người đàn ông thô mộc. Cho dù, lời mời của họ cũng mộc mạc như này: “Rượu nhà tao nấu á, rượu ngô thật đấy, thơm ngon lắm. Mày thử đi!”
CHỒNG UỐNG VỢ SAY, NGƯỜI UỐNG NGỰA SAY
Thế rồi bà lăm lăm “chiết” ra cả nắp can ít rượu cho khách thử. Rồi đôi mắt nhìn hau háu vào khách thì khách đưa rượu lên miệng thử. Cảm giác như bà muốn dòm xem từng giọt rượu thấm qua họng, len vào ruột khách như thế nào.
Chỉ khi khách “khà…à” một cái thật dài, hơi lúc lắc đầu một chút bởi cảm giác ấm cay nồng của rượu đang len vào thì lúc ấy, bà mới cười, mặt giãn hẳn ra! “Khà” một tiếng khoái trá xong rồi, khách có mua hay không cũng chẳng thành vấn đề.
Tôi đã chứng kiến có những ông khách đi qua mỗi can rượu lại nhận bát rượu để uống thử, xong ông lại “khà” rồi bước sang can rượu bên cạnh để nếm. Cứ thế mà “khà” cả dãy can, lượn qua đủ hàng rượu mà chẳng mua chai nào, nhưng chân đã bồng bềnh như đi mây rồi.
Mà các bà bán rượu không hề phiền lòng, hay chèo kéo mời mua. Cứ nếm thoải mái đi, ngon thì mua, mua thì vui mà không mua cũng chẳng buồn.
Rồi lại có nhóm 4-5 thanh niên chẳng biết choai choai hay đã lập gia đình, bởi rất khó đoán, đang ngồi quanh một chai “La Vie” nửa lít nằm giữa mấy cái chén thủy tinh. Thực sự, giữa cái lạnh này, giữa không khí chợ phiên này, thứ chất lỏng trong chai “La Vie” kia mới thực sự truyền tải đủ ý nghĩa của “Cuộc sống”.
Họ rót rượu vào bát rồi uống, rồi tỉ tê ngồi tâm sự với nhau rất nhỏ nhẹ, tưởng như e thẹn. Không có cái kiểu rượu vào lời ra, “1,2,3 uống” rất ghê, rất phản cảm vì làm ảnh hưởng đến xung quanh. Kiểu người H’mông uống rượu là thế, âm lượng đủ nghe, nói chuyện tâm tình, có say cũng chỉ lặng lẽ gieo mình xuống đất làm giấc.
Cũng có lúc tôi gặp trên đường đi, hai chàng trai chắc mới lớn, ngồi ven đường, cách chợ một quãng. Ở giữa họ là một chai rượu, hai cái chén nhỏ. Câu chuyện của họ, có lẽ quanh chủ đề tình yêu, thất tình chẳng hạn, bởi tôi thấy anh bạn kia có vẻ như vỗ về anh này nhiều lắm. Và mắt chàng trai kia có vẻ buồn, như thể “ta say đâu phải vì men, mà vì em”.
Say vì gì thì cũng sẽ say, cho dù rượu có nhạt đến mấy. Nhưng kiểu say sau chợ phiên của người H’mông cũng rất đẹp và độc đáo. Họ uống rượu một cách nhàn tản nên khi say cũng nhàn tản, lấy đất làm giường, lấy trời làm màn, để chìm vào cơn say hiền lành.
Hình ảnh những người đàn ông mặc áo chàm nằm ngủ say bên vệ cỏ, vệt rừng chẳng xa lạ gì, miễn là chỗ ngả lưng đó an toàn cho bản thân. Hạnh phúc hơn là những người có vợ đi cùng, kiên nhẫn ngồi bên cạnh, tay giơ ô che mưa nắng cho đức ông chồng đang say vắt cả lưỡi sang bên. Cô ngồi đợi có khi hàng giờ đồng hồ, khi nào chồng dậy mới về.
Còn nhớ, có lần chạy vào cửa khẩu Bạch Đích (xã Yên Minh), thấy nguyên ở vệ cỏ bên đường là một cặp vợ chồng nằm ngủ say sưa, mặc cho giỏ hàng để lăn lóc bên cạnh. Đi thêm vài cây số, thấy chợ phiên biên giới vừa đóng cửa, liền hiểu ra nguyên nhân của giấc ngủ chàng và thiếp kia.
Hoặc là say nhưng nhờ con ngựa mà về được nhà. Ông chồng say rượu nằm vắt người qua lưng ngựa, còn cô vợ kéo đuôi ngựa để nó đừng đi quá nhanh hoặc sai đường. Cứ thế, cả đoàn dắt díu nhau đi, có lẽ đến khi ánh mặt trời hiếm hoi chìm sau dãy núi mờ xa, họ cũng về đến nhà.
Vậy nên, người H’mông mới có một bài tửu ca:“Uống để thương để nhớ. Lời nói như tên bay. Cứ gặp nhau là uống. Mà uống là phải say… Uống cho vợ này, uống cho con. Uống cho chân này, uống cho say. Chồng uống, vợ say. Người uống, ngựa say”.




























