Nhớ thầy Nguyễn Xuân Hòa
'Thưa các em! Các em biết không, tôi cũng từng là bộ đội, mà còn tham gia từ rất sớm nữa cơ!'-câu chuyện giản dị về cậu bé nghèo 15 tuổi tháo quần bà ba may thành quần bộ đội để đi theo cách mạng đã trở thành ký ức khó phai về Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa. Một đời người đi qua chiến tranh, giảng đường và những năm tháng cống hiến lặng thầm, để lại hình ảnh một người thầy hiền hậu, tận tụy và giàu nhân cách.
Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa tuổi Nhâm Thân, sinh năm 1932, ở một làng quê nghèo ven sông, thuộc xã Cam Hiếu, huyện Cam Lộ cũ (nay thuộc xã Hiếu Giang, tỉnh Quảng Trị). Nhà nghèo nên từ nhỏ đã sớm tham gia công việc đồng áng, nặng nhọc, vất vả... Năm 15 tuổi (1947), thầy tham gia quân đội.
Năm 1954, tập kết ra Bắc, được tổ chức cho đi học vượt nhiều cấp phổ thông và hai năm sau vào học khóa I, Khoa Ngữ văn, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội. Tốt nghiệp năm 1959, thầy được khoa giữ lại làm giảng viên bộ môn Văn học Trung Quốc, được gửi sang Bắc Kinh đào tạo sau đại học.

Chân dung Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa - Ảnh: P.P.P
Sau ngày thống nhất đất nước, Trường đại học Tổng hợp Huế được thành lập năm 1976, trên cơ sở sáp nhập Đại học Văn khoa và Đại học Khoa học thuộc Viện Đại học Huế trước đây, thầy được cử vào để tham gia xây dựng các ngành khoa học xã hội và nhân văn.
Năm 1977, thầy được cử giữ chức Thư ký Công đoàn (sau này gọi là Chủ tịch Công đoàn) Khoa Văn Sử, sau đó làm Phó Chủ nhiệm Khoa Văn Sử (năm 1978), rồi Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn (năm 1981). Chức vụ cuối cùng của thầy trước khi nghỉ hưu là Trưởng bộ môn Lý luận văn học-Văn học nước ngoài kiêm Bí thư Chi bộ của khoa.
Là người có quá trình đóng góp dài lâu cho ngành giáo dục đại học từ Bắc vào Nam như vậy, nhưng thầy không phải là người có bản lĩnh khai phá, hoặc là nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển, mà chỉ là tấm gương của một người thừa hành, tận tụy với công việc, một công chức mẫn cán hoàn thành phận sự của mình ở bất kỳ cương vị công tác nào.
Ấn tượng đầu tiên của tôi về thầy thật khó phôi pha. Đó là khi tôi còn là cán bộ trẻ mới về công tác, được giao làm Bí thư Liên Chi đoàn khoa. Trong một lần Liên Chi đoàn tổ chức buổi tọa đàm nhân ngày Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12, chúng tôi có mời thầy tham dự với tư cách là Chủ nhiệm khoa.

Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa (thứ 2 từ trái sang) chụp ảnh lưu niệm cùng các đồng nghiệp - Ảnh: P.P.P
Thời đó, chưa có tổ chức Hội Cựu chiến binh, nên cuộc họp mặt chỉ nhằm ôn lại truyền thống, lắng nghe những người đã từng tham chiến trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ kể lại những gì mình đã trải qua, và cuối cùng mời thầy Chủ nhiệm khoa phát biểu vài lời với anh em.
Thật bất ngờ, thầy cũng từng là bộ đội: “Thưa các em! Các em biết không, tôi cũng từng là bộ đội, mà còn tham gia từ rất sớm nữa cơ! Là thằng bé sinh ra ở làng quê nghèo, nhà lại đông anh em, từ nhỏ tôi đã phải tham gia công việc đồng áng, từ việc nhẹ đến cả việc nặng như cày, cuốc...
Năm đó, tôi chưa tròn 15 tuổi, bộ đội hành quân qua làng, có dừng lại vài bữa, khi các anh rút đi, tôi trốn nhà chạy theo. Các anh không cho, cương quyết đuổi lui, tôi vẫn cứ lẻo đẻo chạy theo, cuối cùng các anh cũng phải chấp nhận. Để theo các anh, tôi lấy cái quần bà ba của tôi, tháo ra xẻ giữa, đơm nút vào cho giống quần bộ đội, còn thắt lưng thì dùng dây chuối...”.
Con đường của người thanh niên yêu nước bắt đầu từ thuở thiếu niên muốn thoát ra khỏi cuộc sống cơ cực ở làng quê, chứ có ý thức về lý tưởng gì to tát đâu. Thầy không kể gì về các chiến công, mà chủ yếu là những gian khổ, hiểm nguy trên bước đường kháng chiến, với tư cách là người làm công việc giao liên cho đơn vị. Và, cũng thiếu ăn, đói khổ.
Nhưng ở đây, dễ quên cái đói hơn ở nhà. Đói cùng anh em, cùng đồng cam cộng khổ. Đói trong sự đùm bọc, sẻ chia của Nhân dân, những người cùng khổ. Đói để mà hướng về ngày mai tươi sáng, chứ không mịt mù, tăm tối như khi còn ở quê nhà.
Thầy là người hiền lành, khiêm tốn, tốt bụng, luôn nhỏ nhẹ với mọi người. Từ trong giảng dạy, công tác đến các mối quan hệ trong đời sống, thầy đều không thích phô trương, ồn ào, lớn tiếng. Tôi nhớ những năm đầu khi tôi mới về khoa, chưa có giờ giảng, mỗi tuần phải đến trực văn phòng bộ môn ba buổi. Mang sách vở, tài liệu đến đó đọc và viết hoặc soạn bài giảng, giáo trình.
Thời đó còn bao cấp nên phải “duy thủ độc thư cao”, người thầy giáo chỉ lấy việc đọc sách làm trọng, và đi dạy. Thậm chí, ngay cả viết lách cũng không thể thực hiện được vì không có điều kiện để in ấn, phát hành. Việc này áp dụng đối với tất cả cán bộ trẻ khi mới về khoa mà chưa kiêm nhiệm công việc gì khác, áp dụng cho đến khi thầy nghỉ chức Trưởng khoa.

Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa chụp cùng vợ, hai con gái và cháu ngoại - Ảnh: P.P.P
Nhiều người phản ứng về cách quản lý thời gian này, trong đó có tôi. Một người thích lang thang, xê dịch, khao khát tiếp cận và khám phá cái mới như căn tính vốn có của tôi, thì đây là một cực hình! Nhưng sau này tôi mới biết ơn thầy, vì nhờ thế mà tôi đọc được nhiều, suy ngẫm, tích lũy được nhiều ở chặng mở đầu con đường đến với nghiên cứu và giảng dạy. Đó là thời gian đầu tư cần thiết cho một người làm khoa học xã hội và nhân văn.
Không có gì bảo đảm cho một sự thành công bỗng từ đâu đưa đến. Chỉ có thể xuất phát từ nền tảng của sự cần mẫn và đam mê. Ừ, mà lạ lắm, đam mê cũng không tự nhiên mà có. Phải thật sự cần mẫn, mới là suối nguồn làm nảy sinh đam mê, như là hệ quả tất yếu của định luật bảo toàn năng lượng đời sống tinh thần trong quá trình hình thành nhân cách con người.
Lại nữa, trong một lần tranh luận khoa học, do tính khí của con người xứ Quảng nên đôi khi tôi hơi to tiếng, thầy không phô trương uy quyền trên cương vị là thầy giáo từng dạy tôi và là cấp trên để lấn át ngay lúc đó, mà sau đó mới gặp riêng tôi, thầy nhỏ nhẹ “phanh” tôi lại: “Này Phong ơi! Mình không nói sai hay đúng trong vấn đề tranh luận hôm nọ, nhưng mình khuyên Phong phải dè chừng, xem thử tự trong con người mình có tư tưởng “học phiệt” hay không? Tự coi mình cái gì cũng biết là hết sức nguy hiểm...”.
Tôi bừng ngộ ra ngay với niềm hổ thẹn và sự biết ơn thầy với tất cả niềm tôn kính của một đứa học trò nhỏ trước bậc trưởng bối đã có nhiều từng trải.
Về cuộc đời riêng, thầy chẳng mấy suôn sẻ, với hai lần cập bến, để lại không ít tổn thương trong đời sống tinh thần. Rồi thể xác bị bệnh tật, làm cho bộ phận phát âm không bình thường, ảnh hưởng nhiều đến công việc giảng dạy và truyền thụ kiến thức. Trong dáng người hao gầy, nhỏ con, lại mang cái cốt tính hiền lành, ít nói, tốt tính với mọi người, cam chịu và phục tùng, không đấu tranh trực diện với những eo sèo của đời sống thường nhật không thiếu những sai trái ở mọi lúc mọi nơi, đôi khi cũng làm thu nhỏ con người, tạo nên một bản mệnh nhỏ nhoi.
Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đình Thảng là Phó Chủ nhiệm khoa kiêm Bí thư Chi bộ, người trợ thủ đắc lực cho thầy trong suốt thời gian mười mấy năm thầy làm Chủ nhiệm khoa, từng nói rằng: “Tôi thương thầy Hòa, nên cáng đáng nhiều việc mà lẽ ra là của Chủ nhiệm khoa. Thầy ấy hiền quá dễ làm người nghĩ đến sự nhu nhược. Hiền đến mức không có khả năng để hại được ai!”.
Sau khi nghỉ hưu (năm 1997) một vài năm, để thuận tiện cho việc học hành và công việc của con cái, thầy chuyển cả gia đình ra sinh sống tại Hà Nội và mất tại đây (năm 2014). Hôm nghe tin thầy mất, tôi cùng với các thầy Lê Cảnh Vững, Nguyễn Hồng Dũng (chúng tôi là Chủ tịch Công đoàn khoa, Bí thư Chi bộ khoa và Trưởng bộ môn Văn học nước ngoài) nhảy tàu hỏa ra Hà Nội để viếng tang thầy. Một đám tang đã được tổ chức tại nhà hỏa táng Bệnh viện Thanh Nhàn, hơi buồn vì ít người đến viếng.

Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa (ngồi hàng đầu, ngoài cùng bên trái) chụp ảnh lưu niệm cùng các đồng nghiệp - Ảnh: P.P.P
Tôi nhớ ngoài gia đình, người thân, ở Hà Nội có giáo sư Hoàng Trọng Phiến (người bạn học cùng lớp đại học với thầy), thầy giáo và là nhà phê bình văn học tài danh Bùi Việt Thắng (học trò cũ của thầy ở Đại học Tổng hợp Hà Nội) và cô Trần Đặng Hồng Phương, trước đây từng học ở Đại học Tổng hợp Huế, đến viếng tang. Điều tôi hơi bất ngờ là nghe điếu văn, tôi mới biết thầy là thạc sĩ, tốt nghiệp ở Đại học Bắc Kinh năm xưa, mà lâu nay thầy kín tiếng và cũng chẳng ai nhắc đến bao giờ!
Sở dĩ câu chuyện thầy chạy theo đơn vị bộ đội từ tuổi thiếu niên cứ bám lấy ký ức tôi, làm tôi nhớ mãi, là bởi vì tôi nghe cứ như thầy kể chuyện về mình. Tôi, một thằng bé cũng sinh ra ở làng quê nghèo ven sông Thu Bồn, chưa biết chữ đã biết chơi trò chiến tranh, 13 tuổi đã làm giao liên cho một đơn vị bộ đội địa phương là R20 của Quảng Nam thời đó.
Hóa ra, thầy cũng là một phần trong ký ức đời tôi. Mỗi khi nhớ đến thầy, tôi lại nhớ đến quãng đời niên thiếu của mình. Quảng Nam và Quảng Trị đều là hai miền quê nghèo khó, bởi chiến tranh chà đi xát lại. Hai làng quê ven hai con sông Thu Bồn và sông Hiếu đều tuôn về biển cả. Dẫu xa xôi vạn dặm, nhưng chắc có lúc hai nguồn nước sẽ gặp nhau, hòa tan trong nhau!































