Nhớ những ngày nghe lén... 'nhạc đỏ'

Khoảng đầu năm 1974, ba tôi mua được một máy hát dĩa kiêm radio 4 band cũ, hiệu National của Nhật, với giá hơn một tạ gạo. Mỗi tối, trên căn gác thuê trọ trong con hẻm đường Hai Bà Trưng - Khu số 4 - Đà Lạt, ba trùm cái mền bông to, nặng kín đầu rồi mở thật nhỏ radio để nghe lén đài Giải phóng. Tôi mới 10, 11 tuổi nằm cạnh ba cũng rất hồi hộp vì bên kia vách ngăn bằng những tấm ván sơ sài với nhiều kẽ hở đút lọt cả bàn tay là nơi gia chủ ngủ. Các con trai của chủ nhà đều là sĩ quan, công chức, cảnh sát... Còn ngoài cửa sổ là con dốc đất đỏ - đường tuần tra của dân vệ, lính nghĩa quân. Đó cũng là lần đầu tôi được nghe nhạc Cách mạng rất lạ lẫm từ lời ca đến giai điệu mạnh mẽ, hào hùng...

Vang mãi trong ký ức!

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, tôi nay đã 62 tuổi, nhưng ký ức những ngày "nóng bỏng" đó vẫn như mới hôm qua, hôm kia. Tôi vẫn nhớ giọng Bắc của cô phát thanh viên cao vút khi thông báo dồn dập các tin chiến thắng từ Phước Long - Buôn Ma Thuột - Đường 7 (nối Gia Lai - Phú Yên) - Huế - Đà Nẵng v.v... rồi các bài hát hào hùng, mạnh mẽ in luôn vào tim óc tôi, như: "Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước...; Dậy mà đi đồng bào ơi...; Từ bao lâu ta nuôi trong tim ý chí căm hờn và lòng quật cường...; Ta đi lên làm theo lời Bác - lòng mở cờ tim gióng trống quyết trả thù nhà, đền nợ nước - đi lên chiến đấu đến cùng...". Có những bài nhẹ nhàng hơn nhưng day dứt, khó quên: ... "kèn tiến công vang dội khắp hai miền - Bác Hồ gọi ấy là mùa xuân đến..."; hay... "Con đường là gánh gạo - Muỗi bay rừng già - Cho dài tay áo - Hết rau rồi em có lấy măng không?...".

Tôi ngạc nhiên, bàng hoàng rồi hồi hộp nghe những lời ca, giai điệu mới mẻ, khác lạ được mở nhỏ như tiếng muỗi vo ve bên tai, điều kỳ diệu đó như từ một thế giới xa xăm, mơ hồ nào đó đang vọng về!

Rồi ngày 03/4/1975 - Đà Lạt được giải phóng. Lúc khoảng 10 giờ sáng, một chiếc xe tải Molotova chở khoảng một trung đội và kéo theo một khẩu pháo cao xạ đến đậu ở ngã tư số 4. Người dân kéo nhau ra xem rất đông. Lần đầu tôi ngỡ ngàng với các chú giải phóng quân giản dị, hiền lành như bước ra từ các bài hát mà hai cha con trùm mền nghe lén!

Chiếc máy hát dĩa kiêm radio được nêu trong bài

Chiếc máy hát dĩa kiêm radio được nêu trong bài

Gần một tháng sau thì đất nước thống nhất, gia đình tôi phải bán cái máy hát dĩa kiêm radio (nhà tôi gọi là cái đài) vì quá túng bấn. Một sớm mai, nắng Đà Lạt ấm áp chan hòa, má tôi bỏ "cái đài" vào bao bố cùng xấp dĩa hát rồi má con tôi mang ra chợ trời vừa hình thành sau rạp xinê Hòa Bình, trải bao bố xuống vỉa hè rồi đặt cái đài lên. Cái lạnh sớm mai ở Đà Lạt cùng với cơn đói làm bụng tôi nôn nao muốn ói. Lúc mang cái đài nhiều kỷ niệm ra khỏi nhà, chị tôi khóc, tôi càng buồn hơn. Đến gần trưa thì một ông bộ đội trạc tuổi ba tôi đến mua cả đài và bộ đĩa nhạc với giá 11 nghìn đồng (lúc đó 1 đồng miền Bắc đổi được 500 đồng tiền chế độ cũ). Tôi cầm 22 đồng tiền miền Bắc trông nhỏ và lạ so với tiền miền Nam mà bần thần. Liếc sang thấy má tôi rất buồn khi gấp cái bao bố kẹp vào nách. Số tiền đó chỉ mua được hơn 50kg gạo (gạo 200 đồng/kg). Chuyện này cứ ám ảnh tôi mãi, nên gần 40 năm sau tôi viết thành truyện ngắn "Bố với Ba" đăng 2 kỳ trên báo "Người Đại Biểu Nhân Dân" ngày 12, 13/3/2014...

Ăn hết mấy chục ký gạo từ tiền bán cái đài, hai má con tôi hàng ngày lại theo "đoàn quân vô sản" của Đà Lạt, vào rừng Cam Ly chặt củi mang ra chợ Đà Lạt bán, đổi gạo. Đó là hành trình quá cực nhọc với một đứa bé mới 11 tuổi như tôi. Buổi sáng chỉ một bụm khoai lang khô nấu với muối lót dạ, rồi quang gánh, dao rựa kéo nhau vào rừng Cam Ly. Chiều về thành đoàn gánh củi tỏa khắp ngõ ngách thị xã... Có chiều đói, lạnh đến kiệt sức, tôi gánh mớ củi bé xíu đi xiêu vẹo ngang nhà hàng Kim Sơn đối diện rạp xinê Ngọc Hiệp trên đường Phan Đình Phùng. Mùi thức ăn thơm phức bay ra cùng tiếng nhạc "... Cắc cụp cum, cắc cum cùm cum... đuốc lồ ô bập bùng trong ánh lửa, sóc Bom Bo rộn rã tiếng chày khuya...". Suốt nửa thế kỷ sau đó, mỗi khi nghe lại bài hát "Tiếng chày trên sóc Bom Bo" của nhạc sĩ Xuân Hồng, dù đang ở đâu, tôi cũng rùng mình, lành lạnh tay chân vì xúc động. Chính buổi chiều gánh củi bán dạo trong đói rét, kiệt sức của năm 11 tuổi đó đã ám ảnh, tạo cảm xúc mãnh liệt để 15 năm sau, chỉ trong đêm 10/10/1990 tôi viết xong truyện ngắn "Kẻ sát nhân lương thiện" (giải nhất cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam 1991, được dịch ra nhiều thứ tiếng, gồm: Anh, Pháp, Nhật, Trung Quốc, được giảng dạy trong nhiều trường Đại học ở Việt Nam và nước ngoài)...

Mít-tinh sau ngày Đà Lạt được giải phóng

Mít-tinh sau ngày Đà Lạt được giải phóng

Những bài ca giúp chúng ta tự hào, biết ơn!

sau ngày 30/4/1975, tôi cùng bạn bè quay lại Trường tiểu học Cộng đồng Đa Nghĩa (nay là Trường tiểu học Lê Lợi - trên đường Hai Bà Trưng - Đà Lạt) học lớp 5. Mỗi lớp đều có treo cờ đỏ sao vàng và hình một cụ già râu dài, phúc hậu. Cô giáo chỉ vào hình kể câu chuyện tôi nhớ mãi đến bây giờ: "Lúc còn trẻ Bác Hồ lấy tên là anh Ba ra đi tìm đường cứu nước. Có người hỏi "tiền đâu anh đi?"; "Anh Ba" đưa hai bàn tay lên: "Tiền ở đây!". Cô dạy chúng tôi hát "Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên, nhi đồng...", "Anh Kim Đồng ơi khi anh xa rồi gương anh sáng ngời đàn em cố noi..." và "Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào/Học tập tốt, lao động tốt...". Cả trường có thêm một chiều thứ năm lao động với khẩu hiệu "Lao động là vinh quang" bắt đầu xuất hiện trên phố!

Năm 1976, gia đình tôi cùng 48 hộ "vô sản" của Đà Lạt được chọn đi kinh tế mới đợt đầu ở vùng núi RChai - cách Đà Lạt hơn 40 cây số về phía Nam (nay là xã Tân Hội - tỉnh Lâm Đồng). Cuộc sống thiếu đói sau khi hết 6 tháng lương thực Nhà nước cấp, đã dẫn các hộ dân vào rừng đốt than, chặt củi, mang ra chợ Tùng Nghĩa (trung tâm huyện Đức Trọng cũ) bán. Dọc con đường gánh củi hoặc gánh rau, gánh bắp từ xóm kinh tế mới ra Quốc lộ 20 (nay là ngã ba Tân Hội) có hàng cột treo các loa truyền thanh. Những buổi tối muộn hoặc sáng tinh mơ, khi đoàn người ốm đói lũ lượt gồng gánh trên đường, cũng là lúc các loa công suất lớn đó lại phát những bài ca Cách mạng sau phần tin tức. Ngày nay, con đường rừng lầy lội ghi nhớ biết bao kỷ niệm của tuổi thơ gian khổ đó đã là Tỉnh lộ 724 nối từ Quốc lộ 20 qua Lâm Hà rồi đi dọc Tây Nguyên. Đường nhựa rộng 16 - 20m, có điện âm dây thắp sáng xuyên đêm, rất hiện đại. Những mảng rừng thưa, ruộng rẫy giờ là siêu thị, khách sạn, quán cà phê, tạp hóa, dịch vụ... Đồng bào Chil, KHo và các dân tộc ít người... giờ đi xe máy, ôtô chứ không còn cuộc sống hoang sơ, lam lũ như nửa thế kỷ trước. Mỗi lần về quê, sớm mai đi bộ thể dục, tôi lại nghe trong sương lạnh cao nguyên như vang vọng những ca khúc hùng tráng thời chống Pháp, chống Mỹ: "Đoàn giải phóng quân một lần ra đi, toàn thắng vinh quang vì ngày trở về..." (nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu) hay những ca khúc về Trường Sơn, Quảng Trị; Tiến về Sài Gòn, v.v...

Núi RChai

Núi RChai

Sau tháng 02/1979, các loa này tiếp sóng các đài Trung ương, địa phương dồn lực phát các bài ca chống bành trướng, bá quyền, như: "Tiếng súng đang vang lên bầu trời biên giới, giục toàn dân ta vào cuộc chiến đấu mới!" (nhạc sĩ Phạm Tuyên); "Chiều dài biên giới, dài theo bước chân chúng tôi, những đỉnh núi mờ sương..." (nhạc sĩ Trần Chung)... Rồi những ca khúc mang hơi thở của Thanh niên TPHCM lên đường bảo vệ biên giới Tây Nam: "Ngày mai anh lên đường, hàng me lung linh ánh đèn. Đêm nay đi bên em giữa lòng thành phố yêu thương..." (nhạc sĩ Thanh Trúc). Các thế hệ sinh ra trong thập niên 50, 60 thế kỷ 20 hầu như đều thuộc các ca khúc Cách mạng này. Đó cũng chính là niềm vui, cảm xúc của tôi về một quê hương thanh bình, phát triển sau các cuộc chiến tranh tàn khốc còn in dấu trên từng lời ca, bài hát của "nhạc đỏ”. Đấy là sự động viên lòng yêu nước, ý chí chiến đấu của nhiều thế hệ người Việt Nam!

Tỉnh lộ 742 hôm nay

Tỉnh lộ 742 hôm nay

Từ cậu bé 11 tuổi trùm chăn nghe lén "nhạc đỏ” hơn 50 năm trước, tôi cùng bạn bè lớn lên, đi học, đi làm dưới chế độ mới. Nhiều lúc cũng sân, si hơn thua về quyền lợi ở cơ quan hay địa phương. Nhưng rồi vào những dịp 30/4 hàng năm, được xem những chương trình nhắc nhớ, tôn vinh truyền thống và nghe lại những bài ca Cách mạng, nhớ tới những người đã cống hiến, hy sinh qua các cuộc chiến tranh vệ quốc vẫn chưa tìm được hài cốt hay còn sống mà phải chịu những thương tật, di chứng nặng nề của bom đạn; tự nhiên thấy mình quá may mắn, không còn hơn thua những chuyện nhỏ nhặt nữa. Tháng 4/2026 này, nhiều nơi trên thế giới đang chìm trong khói lửa chiến tranh, xung đột sắc tộc, tôn giáo, càng thêm quý trọng cuộc sống an vui, hòa bình, càng thêm biết ơn những Anh hùng, Liệt sĩ đã ngã xuống để quê hương, đất nước có được hạnh phúc như hôm nay!

LẠI VĂN LONG

Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/doi-song/nhip-song/nho-nhung-ngay-nghe-len-nhac-do_192011.html