Nhà thơ Trần Lê Khánh: Thơ gieo cái đẹp, cho đời
Trong đời sống thi ca đương đại, Trần Lê Khánh xuất hiện như một tiếng nói biệt lập: lặng lẽ nhưng bền bỉ, tối giản mà thâm sâu, giàu trực giác và minh triết.
Trong 9 năm, anh xuất bản 12 tập thơ, từ tập đầu tiên "Lục bát múa" đến gần đây nhất, "Lối vào của nắng" cho thấy con đường thơ của anh rất sung mãn. Những giải thưởng danh giá trong và ngoài nước đã được trao cho thơ Trần Lê Khánh; nhưng tôi nghĩ, thơ anh không thuộc về đó, nó từ chối những lấp lánh ồn ào để cất lên tiếng nói sâu thẳm trong hành trình truy vấn bản thể mà chính anh - tác giả của những câu thơ ấy vẫn chưa thể có câu trả lời cuối. Ấn phẩm Văn nghệ Công an Tết Bính Ngọ đã có cuộc trò chuyện với anh.
Thơ như một sự tỉnh thức
- Anh từng nói "nếu không làm thơ, đời tôi rất bất hạnh". Có nghĩa thơ đã cứu anh? Tại sao nghiêm trọng vậy? Và thơ đã giúp anh những gì?
+ Thực ra câu hỏi của chị cũng làm tôi giật mình. Dù nhiều năm hành thiền, đọc sách kinh Phật, nhưng đôi lúc tôi vẫn hoài nghi bản thân mình đã hiểu hơn chưa hay bản ngã vẫn còn nhiều. Chỉ khi làm thơ, tôi mới nhận ra, mình đang thiền. Thầy tôi, một thiền sư, ông từng nói, nghệ thuật sẽ giúp chúng ta kiểm chứng mức độ mình đã hành thiền như thế nào.
Từ thơ, tôi khám phá ra nhiều góc cạnh trong con người mình. Nếu không có cơ hội đó, tôi nghĩ rằng, đời tôi sẽ rất bất hạnh. Bởi tôi vẫn chạy theo bên ngoài, những thứ mà tôi cho là thành công, những cái đẹp hào nhoáng… Cứ chạy mãi, nhưng càng chạy càng xa. Tôi nhận ra điều đó và thơ giúp tôi quay lại với bản thể, tìm ra những khoảng trống trong con người mình. Thơ giữ tôi ở lại.

Nhà thơ Trần Lê Khánh.
- Đọc anh tôi có cảm giác thơ đang trở thành cách anh sống hơn là một hoạt động sáng tác?
+ Thơ, với tôi là hơi thở, để sống được thì chúng ta phải thở. Nếu tách thơ với con người của nhà thơ, tôi nghĩ đó là một sản phẩm chứ không phải là một bài thơ. Tôi cũng khá ngạc nhiên khi có những người làm thơ, viết văn nhưng cuộc sống thực của họ khác xa văn chương. Tôi không nói là tốt hay xấu. Nhưng quan điểm của tôi thơ là người, người là thơ, hòa quyện với nhau thành một cách sống.
- Anh thích thú, hài lòng, hay cảm thấy mất mát khi những đứa con tinh thần rời bỏ anh, chúng đang tạo ra một hành trình sống khác, nhận thức khác, giá trị khác?
+ Với tôi, hai cảm giác đó đều là sự thất bại. Tôi nhớ khi làm xong mấy câu thơ "quỳnh đã về cánh hoa/ trả căn phòng tiếng động/ quỳnh cứa vào khoảng trống/ một vệt dài như sông" tôi cứ "tự" bần thần. Một niềm hoan lạc, hạnh phúc trỗi dậy nhưng nó cũng mất ngay tức thì. Tôi không tiếc nuối hay đau khổ. Và chính vì những cảm giác không diễn tả được ấy nên tôi mới muốn làm thơ tiếp. Tôi nghĩ, thứ còn lại cuối cùng khi ngôn từ bất lực, đó chính là thơ. Vậy tại sao chúng ta phải giữ lại? Hãy để thơ có đời sống riêng của mình.
- 9 năm, với bộ sưu tập giải thưởng thơ danh giá của trong nước và quốc tế, anh nghĩ về điều đó như thế nào? Thành công trong thơ có làm anh thay đổi?
+ Khi làm thơ, tôi không bao giờ nghĩ sẽ tham gia các cuộc thi. Nhưng thầy tôi "xúi" rằng, thơ viết ra chỉ để một mình đọc, không có nhiều ý nghĩa. Thơ cần có độc giả và được sống cùng đời sống. Ông khuyên tôi tham dự các cuộc thi để hiểu thơ mình hơn, và may mắn tôi giành được một số giải thưởng. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình thành công. Đoạt giải trong các cuộc thi thơ là hạnh phúc nhưng có độc giả, được độc giả đón nhận mới là giải thưởng lớn nhất của người viết.
- Từ "Lục bát Múa" đến "Đồng", thơ anh đi qua nhiều chặng: tối giản - thiền vị - suy tưởng - chín muồi. Anh có xem đó là một lộ trình phát triển có chủ ý, hay là sự "tiến hóa tự nhiên" của tâm trí anh?
+ Tôi nghĩ, làm thơ nói riêng hay làm nghệ thuật nói chung, điều khó nhất là vượt qua được chính mình, dám phủ nhận mình. Tôi có một người bạn tâm giao, khi tôi viết xong bất cứ bài thơ nào cũng đưa cho người đó đọc. Anh ta khen hay thì tôi giữ, mà chê là tôi sẽ bỏ vì thơ rất chủ quan, sự tĩnh lặng hay sự phóng chiếu không có ranh giới. Đôi khi chúng ta bị lạc vào bản ngã của mình mà không nhận ra, nên cần có một người khách quan, lấy chiếc đũa gõ vào đầu, giúp mình tỉnh táo hơn. Đó là một cách tôi vượt qua chính mình.
- Với bất kỳ bộ môn nghệ thuật nào, đỉnh cao của những giá trị nằm ở sự tự nhiên. Nếu sáng tạo mà lí trí quá, nghệ thuật có bị mất đi sự thuần khiết, thậm chí bị biến dạng đi bởi áp đặt của người sáng tạo. Anh nghĩ sao về điều này?
+ Tôi lại muốn hỏi chị, thế nào là sự thuần khiết, làm sao có sự thuần khiết/biết nó là thuần khiết? Sự thuần khiết, đối với tôi, là một bản thể riêng biệt, nó không là của mình và cũng không phải của người khác. Con tim, cảm xúc chỉ là phương tiện để lôi nó ra thôi. Rất nhiều người nghĩ rằng, trái tim luôn chân thành - nhưng chắc gì nó đã chân thành, chúng ta điều kiện hóa nó rồi mà không biết.
Chị thấy một đứa bé lang thang bị ăn hiếp trên đường, bằng sự thuần khiết, chị giúp đứa bé vì xã hội dạy chúng ta về đạo đức, nhưng sự thuần khiết không phải là vấn đề đạo đức, sự thuần khiết không dạy chúng ta đạo đức hay không đạo đức. Nó là hành động tự nhiên không có nguyên nhân.
Tại sao đứa bé nghèo chúng ta lại giúp. Còn đứa bé giàu có, nghịch ngợm gặp nạn, chị có giúp không? Như vậy là chúng ta có thuần khiết không? Quay trở lại với thơ, làm sao tôi biết được thơ tôi thuần khiết hay không? Tôi chỉ biết tôi đang làm thơ từ những thôi thúc bên trong mình, từ những suy nghĩ, chiêm nghiệm về đời sống của mình…
Vũ trụ và tính minh triết trong thơ Trần Lê Khánh
- Người đọc nói: thơ Trần Lê Khánh ít chữ nhưng nhiều khoảng trống, đó là những khoảng trống minh triết. Anh muốn độc giả hiểu và tìm thấy điều gì trong những khoảng trống ấy?
+ Minh triết là những điều tốt đẹp bạn đọc gán cho thơ chứ khi viết tôi không nghĩ đến điều đó. Thơ chỉ là những khoảnh khắc tôi viết ra, tôi dùng phương tiện như chiếc lá, cỏ cây, thiên nhiên… để biểu đạt những suy nghĩ của mình về đời sống.
Cách đây 4 tháng, tôi viết 2 câu thơ tôi rất thích: "Em đẹp như tờ giấy trắng/ Ta viết lên gì rỗng bàn tay". Tôi không đặt ra vấn đề muốn độc giả hiểu và tìm thấy gì trong những khoảng trống đó. Nếu áp đặt như thế, thơ không phải là thơ. Tôi quan niệm, thơ là chất thơ. Như chúng ta hay nhận xét, bộ phim có chất thơ, bức tranh có chất thơ… Bài thơ không có chất thơ là bài thơ vứt đi.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từng chia sẻ rằng, có những bài thơ thoạt đầu đọc rất ngọt nhưng đọc lần thứ 2, thứ 3 thì mất bớt đi nhiều vị ngọt như kẹo singum. Bài thơ hay là "nhai" bao nhiêu lần vẫn còn vị ngọt.
- Chất thiền thấm đẫm trong ngôn từ và hình ảnh của anh đã cho người đọc chạm vào những "khoảnh khắc tỉnh thức". Anh đang thiền thơ hay thơ đang thiền chính anh?
+ Tôi luôn cố gắng làm thơ dù sự cố gắng rất ngược với thơ. Nhưng trên cuộc đời này, chúng ta là những người phàm, nếu không cố gắng sẽ không làm được gì nhiều, nhưng cũng không thể vo cát nấu thành cơm được. Thơ tự đến hay tôi đi tìm nó. Tôi cũng không biết nữa, nó là hai chiều, có lẽ vậy. Tôi rất thích chữ "Mặc Khải" trong đạo Thiên chúa hay chữ "Thiện thệ" trong đạo Phật. Đó là sự kết nối của đất - trời. Tôi chỉ biết khi làm thơ, nhiều điều kỳ diệu đã xảy ra, đôi lúc có những khoảnh khắc thiêng liêng mà tôi không thể nắm bắt được.
- Có người nói anh muốn gieo những hạt thiền vào đời sống này qua thơ?
+ Chưa bao giờ tôi có ý tưởng gieo điều gì đó trong đời sống này. Biết đâu đó là giọt mồ hôi chứ không phải giọt thiền. Những người có tư tưởng gieo hạt giống thiền vào nghệ thuật, tôi không tin lắm họ có tính thiền trừ những vị đạo sư dạy học trò. Tôi được đọc sách rằng Đức Phật từng nói, trong tương lai không có thầy trò mà chỉ là những người đồng hành. Tôi rất sợ khi ai đó nói rằng, tôi đang gieo những mầm thiền.

Nhà thơ Trần Lê Khánh trò chuyện cùng nhà văn Như Bình.
- Nhiều người xem anh như người xây dựng "không gian tĩnh tại" trong thơ. Theo anh, nhà thơ có vai trò gì trong việc tái tạo không gian tinh thần của xã hội?
+ Tôi nghĩ, đối với xã hội loài người, thơ là trạm dừng cuối cùng. Thiền sư Osho nói rằng, nghệ thuật sẽ góp phần thúc đẩy quá trình tiến hóa tâm thức của loài người. Nếu một ngày nào đó, AI làm thơ hay hơn con người, khi đó chắc chắn con người sẽ không còn tồn tại. Bởi tôi cho rằng, AI có thể phối màu, phối nhạc nhưng không thể phối chữ ở một nghĩa sâu sắc nhất, "thơ" nhất.
Một bản nhạc bình thường có thể đầu tư phối khí đẩy nó bay lên, hay hơn. Một nét cọ có thể pha những màu sắc tung tẩy khiến mỗi người có một cảm nhận riêng. Nhưng với con chữ, không thể giấu được, nó hiển lộ trên trang giấy bất kỳ hạt sạn hay sự ngô nghê nào của sáng tạo. Sáng tạo trong thơ là vô tận nên với tôi, thơ là trạm dừng cuối cùng.
Nếu chị buồn, chị có thể nghe một bản nhạc để tìm sự đồng cảm. Nhưng tận cùng của đau khổ, thơ sẽ ra đời. Tôi hy vọng, xã hội sau khi quay cuồng với cơm áo gạo tiền, với danh vọng sẽ nhận ra, sự tĩnh lặng, sự chậm lại có giá trị như thế nào, và lúc đó thơ xuất hiện.
Tôi gặp rất nhiều sự kháng cự, chê bai
- Nếu tôi nói thơ anh ảnh hưởng cách viết của thi sĩ Bùi Giáng, hay là một phiên bản Haiku phong vị Việt, anh nghĩ sao?
+ Tôi không biết. Bởi tôi làm thơ rồi mới đọc thơ người khác.
- Ở nhiều tập thơ, anh đưa thơ đến dạng cực tiểu (Thơ rất ngắn). Đó là thử nghiệm hình thức hay là nhu cầu tinh thần muốn đưa thơ về độ nguyên sơ?
+ Trong nhiếp ảnh có kỹ thuật chụp macro (chụp cận cảnh), đôi khi từ một chấm đen nhỏ nhất của vũ trụ lại thấy cả đại dương rộng lớn. Đó chỉ là một cách đi thôi. Thầy tôi chia sẻ rằng, thơ có 4 loại hình, dễ lay động lòng người nhất là thơ cổ động. Tất nhiên làm được thơ cổ động hay cũng rất khó. Loại hình thứ 2 là những câu thơ về cảm xúc con người: tình yêu, xúc cảm, tình yêu quê hương, gia đình, đôi lứa…
Loại hình thứ 3 là tiếng nói của con tim, tình yêu "không nguyên nhân". Loại hình thứ 4, là chẳng phải 3 cái kia, người ta gọi là "cái thứ tư", "the fourth" và theo tôi nghĩ đó là "thơ thần". Để "thử mình" ở loại hình thứ 3, tôi tìm đến những hiện tượng nhỏ bé thường ngày, rất đỗi bình thường của thiên nhiên, vạn vật làm nguồn cảm hứng cho mình sáng tác.
- Trong "Lục bát múa", anh phá nhịp, phá vần, làm mềm lục bát, khiến thể loại này "chuyển động" theo một mỹ cảm khác. Anh có gặp sự kháng cự hoặc hoài nghi từ những người quen đọc thơ theo quán tính truyền thống không? Anh đối diện với những phản hồi đó như thế nào?
+ Tôi gặp rất nhiều sự kháng cự, chê bai. Ngược lại, cũng có người ủng hộ, đặc biệt là các bạn trẻ. Nhưng sự kháng cự ấy không làm trở ngại cho tôi. Có một nhà thơ lớn gọi điện cho tôi nói rằng, em đừng làm lục bát nữa, hãy làm thể loại khác đi. Nhưng quan trọng là tôi biết mình viết gì. Tôi quan niệm, khi viết, phải so với chính mình, có viết được gì mới mẻ hơn ngày hôm qua không? Tôi nghĩ nhiều về việc sẽ viết tiếp như thế nào chứ không quá quan tâm đến đánh giá của mọi người.
- Trần Lê Khánh đã tạo nên kiểu thơ lục bát Thiền độc đáo. Nhiều câu thơ của anh có tính "thiền" và mang màu sắc đương đại. Vì sao anh muốn cách tân một thể thơ đã đi vào tiềm thức của người Việt?
+ Tôi nghĩ, mình đã có những đóng góp cho thơ lục bát. Thơ lục bát truyền thống chú trọng vần điệu, tính nhạc trong ngôn ngữ đậm đặc. Tôi muốn thay đổi điều đó, làm cho nhịp điệu nhanh, mạnh và hiện đại hơn, có những tứ thơ khiến người đọc bất ngờ. (Lục bát thường dễ đoán). Tôi tin, nếu đi theo con đường cách tân đó, thơ lục bát Việt Nam sẽ thành công khi ra thế giới.
Trong quá trình làm việc với nhà thơ Bruce Weigl, tôi hiểu vì sao, Việt Nam là một cường quốc thơ nhưng chúng ta ít được chú ý trên trường quốc tế. Chủ yếu là do công tác dịch thuật. Thơ Việt mang đậm tính nhạc nên khi dịch sang tiếng Anh, tiếng nước ngoài, cởi bỏ lớp vỏ ngôn ngữ, thơ không còn hay như bản gốc. Có những bài thơ ở Việt Nam rất hay thì không hoặc chưa được dịch.
Ví dụ những câu thơ như "Có thì có tự mảy may/ Không thì không thế gian này cũng không" (Thiền sư Đạo Hạnh), hay "Em về mấy thế kỷ sau. Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không" (nhà thơ Bùi Giáng), hàng trăm năm vẫn còn nguyên giá trị. Chúng ta phải biết chọn những câu thơ, bài thơ như vậy để dịch và giới thiệu với bạn bè quốc tế.
Thơ là phương tiện để gieo cái đẹp, nâng cao thẩm mỹ
- Theo anh, trong bối cảnh nhiều vấn đề xã hội đang đặt ra cho văn học hiện nay, người làm thơ có trách nhiệm gì đối với cộng đồng?
+ Có lẽ, điều lớn nhất mà các nhà thơ làm cho xã hội là nâng cao thẩm mỹ cho công chúng, đó là sứ mệnh của nhà thơ.
- Anh nghĩ gì khi có những người viết những câu thơ độc hại, tiêu cực, gây ức chế xã hội?
+ Theo tôi, đó không phải là thơ. Nếu những gì phóng chiếu để áp đặt cái nhìn của mình, gieo tư tưởng nhưng thiếu thẩm mỹ thì đó không phải là thơ. Thơ là phương tiện để gieo cái đẹp, thẩm mỹ cho đời sống. Nếu để tuyên truyền, cổ động, theo tôi, có rất nhiều phương tiện nghệ thuật khác có thể làm tốt điều đó chứ không nhất thiết chỉ có thơ.
- Anh nghĩ thơ có đủ sức đối thoại hoặc góp phần làm lành những "vết thương xã hội" như khủng hoảng niềm tin, sự đứt gãy văn hóa, hay căng thẳng đời sống hiện đại không?
+ Tôi nghĩ, nếu con người tìm đến thơ, thơ sẽ làm được điều đó. Lịch sử đã chứng minh, thế giới này không thay đổi bởi nhiều người mà thay đổi bởi chỉ một vài người. Như trong bóng tối mênh mông, chỉ cần một bông hoa nở trên đá cũng đủ mang cho con người ánh sáng của niềm tin. Trong xã hội, khi con người bị thương tổn, họ tìm đến, chẳng hạn Đạo Bụt. Thơ hay thì rất hiếm và quý, không thể là đại trà được. Và thơ đúng nghĩa sẽ cứu rỗi con người, hướng con người tới cái đẹp.
- Theo anh, thơ Việt hiện nay đang thiếu điều gì để trở thành một kênh tư tưởng mạnh mẽ như trước?
+ Tôi muốn hỏi ngược lại, một bông hoa có tư tưởng không, nó có nhiệm vụ phải làm đẹp cho xã hội, phải tỏa hương hay không? Không. Thơ là thẩm mỹ, tự thân nó sẽ mang một sứ mệnh, một tư tưởng. Thơ Việt cần thêm độc giả số đông về sự tinh tường, về thẩm mỹ thơ. Và chúng ta tụt hậu so với thế giới khi thiếu những người dịch đủ giỏi để mang thơ Việt ra ngoài biên giới. Thơ không thể khu trú mãi trong nước để rồi đóng cửa khen nhau. Vì thế, chúng ta cần một chiến lược để chọn những bài thơ hay dịch sang tiếng Anh, tiếng nước ngoài nhiều hơn để giới thiệu với bạn bè quốc tế.
Thơ Việt cần sự sáng tạo thuần khiết của các nhà thơ trẻ
- Anh có cho rằng thơ minh triết là cách để văn chương Việt Nam bước vào cuộc đối thoại triết mỹ toàn cầu? Anh đánh giá thế nào về việc thơ Việt nỗ lực hội nhập quốc tế nhưng đồng thời phải giữ được bản sắc văn hóa?
+ Tôi nghĩ là Thơ. Chữ Thơ đã bao hàm mọi giá trị rồi, đừng gắn thêm cho nó bất cứ từ ngữ nào nữa. Một bông hoa mọc giữa rừng làm gì có minh triết. Nó là tự nhiên. Tự nhiên mới là minh triết. Bông hoa không có minh triết nhưng đầy minh triết trong đó. Nhìn lại lịch sử thi ca, các cụ đã viết những áng thơ tuyệt phẩm, thiên nhiều về sự mô tả. Bây giờ, chúng ta sẽ viết gì để khác các cụ, để không bị cái bóng của các cụ che phủ. Như vậy, chúng ta không những phải dùng hiện thực cuộc sống mà phải dùng những hình ảnh mang tính trừu tượng, sâu hơn, phi lô-gic (nhưng có lô-gic), tạo ra những ngữ cảnh thơ độc đáo để biểu đạt. Thơ Việt có thể chọn con đường đó để phát triển và đi ra thế giới.
- Người Việt thường nhìn lại và chiêm nghiệm vào dịp Tết. Nếu nhìn lại chính mình, anh thấy điều gì là "được" và điều gì là "mất" sau nhiều năm làm thơ?
+ (Cười). Có thể là mất "mình" (đáng mừng) nhưng lại được nhiều thơ. Nhưng thực ra, được mất trong nghệ thuật, khi làm thơ tôi không mấy bận tâm.
- Anh hình dung thơ Việt sẽ đi về đâu trong 10-20 năm tới? Thơ tối giản, thơ ý niệm, thơ thị giác… sẽ có vị trí nào? Với anh, thế hệ nhà thơ trẻ cần dấn thân vào điều gì để tạo nên một chuyển động mới cho thơ Việt?
+ Thật khó đoán định thơ Việt sẽ đi về đâu, như thế nào trong thời gian tới, bởi sự sáng tạo là không có giới hạn. Tôi cho rằng, thơ Việt cần sự sáng tạo thuần khiết của các nhà thơ trẻ, những người có năng lực tiếp nhận cái mới nhanh. Họ cần tình yêu và sự dấn thân để mang đến những giọng điệu mới, những tiếng nói mới cho thi ca đương đại Việt Nam.
- Nếu chọn một câu thơ của chính mình để gửi tặng độc giả nhân dịp Tết, anh chọn câu nào?
+ Tôi muốn tặng độc giả mấy câu thơ ngắn này như một lời chúc năm mới bình an, hạnh phúc: "con én dang đôi cánh của mình/ tặng cho mùa xuân bầu trời cao nhất/ một chiếc lông vũ lặng lẽ rơi xuống/ người phương trời chưa đủ nhẹ bàn tay".
- Cảm ơn cuộc trò chuyện thú vị của anh.
Trần Lê Khánh
Nắng xuân
hòn sỏi chìm vào giấc ngủ
chiếc bóng nó đi loanh quanh
trăng đổi chỗ mấy bận
đọng quả thị trên cành
người đạp qua rừng lá khô
trăng nhặt xác mình đem về không hết
mấy thế kỷ dọc theo con phố
dặn lòng mình tránh dẫm đám đông
trăng nóng hổi em nhớ xài khăn
bóng nhà sư đổ dài đêm thứ nhất
chắp tay lâu cây hương cao khói
lau mặt người sót nốt tàn nhang
quả đã sai hương ơi đừng hối
đất đụng trời có sợ đau không
bức tượng đồng vỗ bụng cười lớn
chân người ta là chuyện của muỗi mòng
solenzara mai nắng bừng góc khuất
hãy quay lại nhìn khóe mắt trời xanh
trời đã giấu lưng nghìn năm trước
sư thầy đặt tay lên - viên sỏi thành
Dòng sông không vội
cuộn mình chảy đến đại dương
mẹ ôm con vào lòng
bản giao hưởng ôm nốt nhạc
cánh hạc
chia đôi cánh đồng
bờ đông hoa rực
nuốt ực giọt phù sa
sóng dạt xa
bước một lần nước
bạc đầu ở cửa biển chơi vơi
mưa rơi
hối hả phương trời
dòng sông không vội

































