Nguyễn Ngọc Tư: Bởi bôi hồng
Sau sự vụ nọ, tôi càng nhận ra sức mạnh của ngòi bút nguy hiểm nhường nào. Cứ bôi hồng, tô vẽ mãi, rồi đám đông cũng tin là thật.
Cũng vài ba lần giở sách báo ra, nhất là báo Tết, thấy viết về công tử Bạc Liêu và những giai thoại liên quan, tôi đã lướt nhanh qua. Không hẳn vì đây là chủ đề tôi không mấy để tâm vào, mà còn bởi không khí tết nhất khiến người ta dễ bỏ qua kèm theo cái phẩy tay, tặc lưỡi.
Nhưng rồi ngày càng thấy xuất hiện nhiều bài báo tôn vinh vị công tử con nhà hội đồng Trạch như thánh sống, như biểu tượng tự hào của vùng đất, trên cả những kênh thông tin chính thống, tôi sửng sốt làm sao. Đánh đồng hưởng thụ sành sỏi, chơi ngông, tiêu hoang (mà dân gian còn dùng từ “phá của”) với hào sảng đã lạ rồi, ông Huy còn được đẩy lên như một người có công với đất nước, thì càng kỳ lạ.
Chuyện ông Huy quyên tặng cho cách mạng một ít của nả được dẫn đi dẫn lại, mỗi khi có chuyện cần phải bênh vực, như lần một du khách phàn nàn về dịch vụ ở nhà công tử Bạc Liêu không tương xứng với giá vé họ bỏ ra. Uống một ly nước không ngon, hoặc ngon mà không hợp gu, người ta có quyền bày tỏ, cách bày tỏ dựa vào tâm thế sống của họ, nhưng bị đám đông tấn công, khiến tôi không thể không nghĩ tới cuồng tín, tẩy não.

Bộ phim Công tử Bạc Liêu có bối cảnh tại nhà công tử Bạc Liêu từng vấp phải phản ứng gay gắt của một số nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử và khán giả vì nhiều chi tiết tô hồng nhân vật khét tiếng ăn chơi. Ảnh: Phong Kiều
Sau sự vụ nọ, tôi càng nhận ra sức mạnh của ngòi bút nguy hiểm nhường nào. Cứ bôi hồng, tô vẽ mãi, rồi đám đông cũng tin là thật. Và những cái phẩy tay cho qua của tôi liệu có phải là đồng lõa không?
Trong suốt những câu chuyện trong hồi ức của ba tôi, của những người đi trước, tôi nghe kể hoài chuyện có người dân nghèo gia tài chỉ một chiếc xuồng ba lá để đặt đó giăng câu, nhưng họ sẵn lòng giao tặng gia tài ấy cho đội giao liên làm phương tiện chống chèo đi lại; có người chắt cạn ít dầu lửa còn lại trong nhà vào cây đèn cóc cho cán bộ đang làm việc dưới hầm; có người vét hạt gạo cuối cùng để nấu cơm đãi tổ công tác lỡ bữa ngang qua… Góp máu góp xương quá lớn lao ai trong chúng ta đều biết, nhưng góp gạo, củi, góp giấy mực, con trâu, giồng rau... cũng nhiều không kể xiết.
Chúng ta đi đến ngày nay từ những tấm lòng thơm thảo ấy, và chính đó là thứ khiến cách mạng tự hào, vì được người dân đồng lòng góp công sức vào, dù đó là những người lao động nghèo sống bình dị giữa nhân gian. Những vật dụng bình thường được cho đi ấy tôi coi trọng hơn cả mớ của nả mà gia đình vị hội đồng kia quyên tặng. Bởi đơn giản vì mỗi người dân nghèo đã cho đi tất cả những gì họ có, và gia sản đó từ làm lụng của chính những đôi bàn tay chai sần.
Và bởi tôi không tìm được tài liệu chứng minh gia tộc vị hội đồng nọ làm nên điền sản đồ sộ ấy từ mồ hôi, nước mắt sức lao động chính họ, không phải trên xương máu của tá điền, không nhờ chính sách bảo hộ của người Pháp. Một kẻ cho đi chút tư sản không phải từ mình lao động làm ra vốn chẳng khó gì, và mớ ấy chẳng là bao so với cuộc sanh sửa để lấy tiếng đệ nhất ăn chơi, thật không cần cái gọi là hào sảng. Tôi tin, ngay từ hồi còn là đứa con nít, khi phụ má đẩy xuồng lúa từ đồng khơi về nhà, rằng chỉ cần trọn một ngày cày cấy, làm lụng trên đồng, người ta sẽ không bao giờ lấy những tờ giấy bạc mệnh giá lớn ra đốt để đổi lấy cái cười mỉm mỹ nhân.
Tự hỏi, một vùng đất phải vô vọng cỡ nào mới lấp lửng bôi hồng ông Huy như một biểu tượng, như tấm gương? Vì ông hiếu học, và học hành vô cùng xuất sắc, là một nhà nghiên cứu, nhà khoa học? Vì ông đã xây trường mời thầy về khai mở dân trí cho người dân trong vùng? Vì ông bảo trợ vun đắp cho một loại hình văn hóa dân gian nào đó phát triển rực rỡ? Ông mở trại mồ côi, hay một trại phong, trại tế bần?
Nếu không phải những thứ đó, thì vùng đất vốn từng chọn văn hóa là động lực phát triển, vốn tự tin là giàu văn hóa sao lại chọn một người chẳng liên quan tới văn hóa để véo von khen ngợi, vun bồi? Giao phó thể diện của xứ sở cho một con người, chẳng phải nên cân nhắc, đắn đo sao?
Cuộc đời ông Huy thế nào, vẫn nên để nguyên sắc màu vốn dĩ. Những ai chịu ơn mưa móc nhà ông Huy, ái mộ ông, tôi tôn trọng, nhưng mong hãy để trong lòng, không nên hô hào, ru dỗ một chiều. Đến trẻ con còn biết tô màu cho tượng là phải đa sắc, và để tạo chiều không gian thứ ba, cần phải phủ đen phần bóng, chứ không nên hoàn toàn chỉ một màu hồng. Nhưng nếu tô hồng như lên đồng là chuyện không thể dừng được bởi lý do nào đó mà tôi chưa rõ, thì những người viết về ông Huy, mong các anh viết về gia đình ông Tám Luông, những Biện Toại, Mười Chức, Út Trong với những từ ngữ trân trọng tương tự với tần suất dày đặc tương tự. Sự kiện đồng Nọc Nạng chấn động Đông Dương ấy, máu của những người nông dân bị cướp đoạt đất ấy, tự đã thắm đã mặn mà không cần bôi lên bất cứ sắc màu nào.































