'Nguồn sống' từ rừng
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đang từng bước khẳng định vai trò là công cụ kinh tế, góp phần quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại các xã vùng đệm của các khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Đakrông, Bắc Hướng Hóa và Khu cảnh quan đường Hồ Chí Minh (Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Quảng Trị). Không chỉ tạo nguồn lực ổn định cho công tác giữ rừng, chính sách này còn mở ra hướng phát triển sinh kế bền vững cho người dân, nhất là người dân tộc thiểu số (DTTS) Bru-Vân Kiều, Pa Kô.
Anh Hồ Văn Dũng ở bản Kè, xã Đakrông cho biết, từ khi các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng (BVR) được thành lập đã hạn chế, ngăn chặn quyết liệt tình trạng xâm hại rừng cũng như săn bắt thú rừng trong Khu BTTN Đakrông. Riêng anh Hồ Văn Dũng tham gia tổ nhận khoán BVR theo nguồn dịch vụ môi trường rừng bản Kè từ năm 2018 và được giao bảo vệ 195ha rừng tại tiểu khu 702, Khu BTTN Đakrông.
Tổ nhận khoán BVR theo nguồn dịch vụ môi trường rừng bản Kè có 11 thành viên, tham gia bảo vệ khoảng 2.243 ha rừng. Công việc của tổ là thực hiện 3-4 chuyến tuần tra trong rừng/tuần. Ngoài việc tuần tra rừng theo lịch đã được ấn định, các thành viên của tổ nhận khoán BVR theo nguồn dịch vụ môi trường rừng bản Kè khi làm nương rẫy hay ở trong bản, chỉ cần thấy người lạ “khả nghi” hoặc đám khói bốc lên trong rừng là phải báo với các cán bộ kiểm lâm, rồi ngay lập tức đến nơi để tìm hiểu, xử lý…

Anh Hồ Văn Ác cùng Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm A Bung Nguyễn Xuân Tuấn trong một chuyến tuần tra bảo vệ rừng - Ảnh: S.H
Anh Hồ Văn Dũng cho biết thêm, trong năm 2025, gia đình anh được nhận 50 triệu đồng từ việc chi trả dịch vụ môi trường rừng. Có thể nói, việc thực hiện hiệu quả chính sách dịch vụ môi trường rừng đã góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho các hộ dân ở các xã vùng đệm nhận khoán BVR. Bởi khi lợi ích kinh tế gắn liền với trách nhiệm, người dân sẽ chủ động hơn trong tuần tra, phòng cháy, chữa cháy rừng. Nhờ đó, tình trạng vi phạm pháp luật về lâm nghiệp được kiềm chế, độ che phủ cũng như chất lượng rừng tiếp tục được duy trì ổn định và phát triển.
Còn anh Hồ Văn Ác ở bản Cựp, xã Tà Rụt cho biết, anh tham gia Tổ BVR bản Cựp từ năm 2023. Tổ được giao nhiệm vụ quản lý và bảo vệ 1.364ha rừng. Tham gia tổ, anh được lực lượng kiểm lâm tập huấn, tuyên truyền, phổ biến Luật Lâm nghiệp và các quy định về BVR và phòng cháy, chữa cháy rừng nên càng hiểu hơn về giá trị to lớn của rừng đối với cộng đồng. Tổ BVR bản Cựp luôn chủ động xây dựng kế hoạch bảo vệ 1.364ha rừng được giao.
Các thành viên của tổ thường thay phiên nhau tiến hành kiểm tra, tuần tra rừng; bình quân mỗi thành viên có 2 ngày trong tuần đi kiểm tra, tuần tra rừng. Riêng khoản tiền nhận được từ việc chi trả dịch vụ môi trường rừng đã giúp gia đình anh cải thiện đời sống vốn còn khó khăn, vất vả.
Phó Giám đốc Ban Quản lý Rừng đặc dụng Nam Quảng Trị Hoàng Văn Chiến cho biết, tổng diện tích quản lý của đơn vị là 66.145,77ha, gồm Khu BTTN Đakrông, Khu BTTN Bắc Hướng Hóa và Khu cảnh quan đường Hồ Chí Minh nằm trên 6 xã vùng đệm. Ban Quản lý Rừng đặc dụng Nam Quảng Trị có lực lượng nhận khoán BVR trên diện tích hơn 39.778,29ha với sự tham gia của 18 cộng đồng dân cư, 10 nhóm hộ và 167 hộ gia đình trong vùng đệm. Trong năm 2025, ban đã tiến hành chi trả dịch vụ môi trường rừng hơn 18.442 triệu đồng cho người dân các xã vùng đệm.
Cụ thể, từ nguồn kinh phí trên, Ban Quản lý Rừng đặc dụng Nam Quảng Trị đã chi trả dịch vụ môi trường rừng trong việc khoán BVR với diện tích 17.418,64ha cho 9 tổ/9 cộng đồng với 107 người tham gia, 10 nhóm hộ gia đình với 100 người tham gia, 2 hộ gia đình với 2 người tham gia. Khoán BVR cho 18 cộng đồng dân cư với tổng diện tích 10.263,97ha theo chương trình ERPA; 8.512,35ha cho 141 hộ gia đình theo Chương trình 809; 3.583,33ha cho 119 hộ gia đình theo Nghị quyết 33/2023/NQ-HĐND tỉnh Quảng Trị (cũ). Bên cạnh đó, từ nguồn kinh phí chương trình chi trả giảm phát thải khí nhà kính (ERPA), ban đã thực hiện hỗ trợ 39 công trình đường bê tông, điện chiếu sáng đường quê, sửa chữa, nâng cấp nhà văn hóa cộng đồng… ở các xã vùng đệm.
Có thể thấy chi trả dịch vụ môi trường rừng không chỉ là nguồn hỗ trợ tài chính, góp phần trong phát triển kinh tế xanh ở vùng cao. Khi rừng thực sự trở thành “nguồn sống”, người dân sẽ là lực lượng BVR hiệu quả và bền vững nhất. Đây cũng là nền tảng để gìn giữ “lá phổi xanh”, đồng thời mở ra hướng phát triển sinh kế ổn định, lâu dài cho cộng đồng gắn bó với rừng.




























