Nguồn lực phải đến đúng nơi, đúng người, đúng mục tiêu
Lần đầu tiên, 3 chương trình mục tiêu quốc gia được tích hợp thành một chương trình thống nhất giai đoạn 2026-2035, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý, phân bổ nguồn lực cho phát triển nông thôn, giảm nghèo bền vững và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.
Qua 6 tháng triển khai, chương trình đã đạt được những kết quả gì, đâu là "điểm nghẽn" cần tháo gỡ để phát huy hiệu quả nguồn lực và tạo chuyển biến thực chất ở cơ sở… là những trao đổi giữa phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội và Chánh Văn phòng điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia Nguyễn Xuân Đại.

Chánh Văn phòng điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia Nguyễn Xuân Đại.
Bước thay đổi khá căn bản về cách tiếp cận
- 2026 là năm đầu tiên thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn I (2026-2030) với điểm mới là tích hợp 3 chương trình trước đây thành một chương trình thống nhất. Xin ông cho biết những điểm mới nổi bật của chương trình so với giai đoạn trước?
- Giai đoạn 2021-2025, 3 chương trình mục tiêu quốc gia (xây dựng nông thôn mới; giảm nghèo bền vững; phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi) đã tạo ra nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, quá trình tổng kết cũng cho thấy còn tình trạng giao thoa về chính sách, địa bàn, đối tượng; nguồn lực phân tán, đầu mối quản lý nhiều, việc tổ chức thực hiện ở một số nơi chưa đồng bộ. Vì vậy, việc Quốc hội quyết định tích hợp 3 chương trình thành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 là bước thay đổi khá căn bản về cách tiếp cận.
Theo tôi, điểm mới đầu tiên là chương trình được tổ chức thành 2 hợp phần: Một hợp phần thực hiện các nội dung chung trên phạm vi cả nước và một hợp phần tập trung cho các nhiệm vụ đặc thù phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Việc tích hợp không làm giảm ưu tiên cho các địa bàn khó khăn mà nhằm hạn chế chồng chéo, tập trung nguồn lực và tạo điều kiện để địa phương chủ động hơn trong lựa chọn nhiệm vụ.
Điểm mới thứ hai là phân cấp, phân quyền mạnh hơn theo tinh thần “địa phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu trách nhiệm”. Trung ương tập trung vào cơ chế, chính sách, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát; địa phương chủ động tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế.
- Xin ông cho biết nguồn lực và cơ chế phân bổ nguồn vốn cho chương trình?
- Giai đoạn 2026-2030, ngân sách Trung ương dự kiến bố trí 100.000 tỷ đồng cho chương trình, gồm 70.000 tỷ đồng vốn đầu tư công và 30.000 tỷ đồng kinh phí thường xuyên. Ngoài ra, dự kiến huy động khoảng 300.000 tỷ đồng từ ngân sách địa phương và khoảng 23.000 tỷ đồng vốn tín dụng chính sách. Riêng năm 2026, ngân sách Trung ương bố trí 9.000 tỷ đồng.
Về cơ chế phân bổ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg ngày 15-4-2026. Điểm đáng chú ý là nguồn lực không phân bổ bình quân mà căn cứ vào đặc điểm địa bàn và mức độ khó khăn; ưu tiên cao hơn cho xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới và hải đảo.
Các tiêu chí được thiết kế để phản ánh tương đối rõ mức độ khó khăn của từng địa phương, như: Số xã khu vực I, II, III; số thôn đặc biệt khó khăn; xã an toàn khu, xã biên giới, xã đảo, đặc khu và các nhóm địa bàn khác. Đồng thời, có hệ số ưu tiên phân bổ cho những địa phương khó khăn, nhận bổ sung cân đối từ 70% trở lên. Tinh thần chung là nơi khó khăn hơn, nhu cầu hỗ trợ lớn hơn thì được ưu tiên nguồn lực cao hơn.
Từ góc độ điều phối, điểm quan trọng là Trung ương quy định nguyên tắc, tiêu chí và phân bổ vốn ngân sách Trung ương theo tổng mức cho các địa phương. Căn cứ tổng vốn được giao và điều kiện thực tế, các địa phương được chủ động, linh hoạt quyết định phương án phân bổ chi tiết để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của chương trình; đồng thời chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn, bảo đảm không để trùng lặp, dàn trải.
- Sau 6 tháng đầu triển khai chương trình, ông đánh giá như thế nào về những kết quả bước đầu đã đạt được?
- Theo tôi, kết quả nổi bật nhất sau 6 tháng triển khai chương trình là hệ thống cơ chế, chính sách và văn bản hướng dẫn thực hiện ở Trung ương cơ bản được hoàn thiện đầy đủ, đồng bộ, sớm hơn 1 tháng so với tiến độ Chính phủ giao. Đây là điều kiện rất quan trọng để địa phương bước vào tổ chức thực hiện.
Cùng với đó, bộ máy chỉ đạo, điều phối từng bước được kiện toàn; 33/34 tỉnh, thành phố đã hoàn thành phân loại nhóm xã; nhiều địa phương đã ban hành kế hoạch, nguyên tắc phân bổ vốn và Bộ tiêu chí xã nông thôn mới.
Về xây dựng nông thôn mới, các địa phương đã cơ bản rà soát hiện trạng theo Bộ tiêu chí mới; 2.027 xã xác định mục tiêu đạt chuẩn trong giai đoạn 2026-2030 và 266 xã phấn đấu đạt nông thôn mới hiện đại. Về giảm nghèo, kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 đã được công bố để làm căn cứ thực hiện chính sách năm 2026. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, địa bàn, đối tượng thực hiện cũng đã được rà soát để làm cơ sở triển khai các chính sách đặc thù.
Tháo gỡ điểm nghẽn từ cơ sở
- Bên cạnh kết quả đạt được, thực tế cho thấy nhiều địa phương vẫn chậm ban hành kế hoạch, kiện toàn bộ máy và giải ngân vốn còn thấp… Vậy đâu là những khó khăn và “điểm nghẽn”, thưa ông?
- Theo tôi, có mấy “điểm nghẽn” chính. Thứ nhất, đây là năm đầu triển khai một chương trình tích hợp có phạm vi rộng, nhiều nội dung, trong khi địa phương phải đồng thời rà soát lại mục tiêu, nhiệm vụ, địa bàn, đối tượng và cách tổ chức nguồn lực.
Thứ hai, quá trình triển khai diễn ra cùng thời điểm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, việc kiện toàn đầu mối, chuyển giao nhiệm vụ, hồ sơ, dữ liệu và bố trí cán bộ ở một số nơi cần thêm thời gian.
Thứ ba, tiến độ cụ thể hóa chương trình giữa các địa phương chưa đồng đều. Đến tháng 7-2026, mới có 18/34 địa phương ban hành kế hoạch thực hiện, 23/34 địa phương ban hành nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách và 12/34 địa phương ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới.
Một áp lực nữa là khối lượng vốn và nhiệm vụ của giai đoạn trước chuyển sang năm 2026 còn lớn. Đây là những điểm cần xử lý đồng thời chứ không chỉ tháo gỡ một khâu riêng lẻ.
- Trong những tháng cuối năm 2026, Văn phòng điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia sẽ tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm nào để tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo chuyển biến rõ nét trong triển khai chương trình, thưa ông?
- Trọng tâm lớn nhất trong những tháng cuối năm 2026 là chuyển nhanh từ khâu chuẩn bị sang tổ chức thực hiện thực chất tại cơ sở. Với vai trò là cơ quan giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương và tham mưu Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong quản lý, điều phối Chương trình, Văn phòng điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia sẽ tập trung theo dõi, tổng hợp, đôn đốc tiến độ; kịp thời tham mưu xử lý những vấn đề liên ngành, những vướng mắc vượt thẩm quyền của địa phương; đồng thời tăng cường kiểm tra những nơi tiến độ chậm, giải ngân thấp hoặc có nguy cơ triển khai dàn trải.
Một trọng tâm rất lớn là đẩy nhanh phân bổ và giải ngân vốn, nhất là phần vốn của giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026. Việc rà soát phải đi đến từng nhiệm vụ, dự án, làm rõ nguyên nhân chậm, khả năng tiếp tục thực hiện và trách nhiệm xử lý.
- Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đang đặt ra nhiều yêu cầu mới trong tổ chức thực hiện chương trình, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ hỗ trợ như thế nào để bảo đảm việc chuyển giao nhiệm vụ không bị gián đoạn?
- Từ góc độ Văn phòng điều phối Trung ương, chúng tôi xác định cần tập trung vào 3 việc, đó là: Tiếp tục hệ thống hóa, chuẩn hóa hướng dẫn và biểu mẫu; tăng cường, thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác quản lý, điều phối và triển khai thực hiện; tăng cường tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ trực tiếp thực hiện chương trình, nhất là ở cấp xã; tổng hợp kịp thời những vướng mắc phát sinh để tham mưu cơ quan có thẩm quyền xử lý, hạn chế việc địa phương phải xin ý kiến qua nhiều đầu mối.
Đối với các địa bàn khó khăn, yêu cầu quan trọng là quá trình sắp xếp tổ chức không được làm gián đoạn chính sách và quyền lợi của người dân.
- Theo ông cần có những giải pháp gì để việc phân bổ, quản lý và sử dụng nguồn vốn Chương trình đúng trọng tâm, hiệu quả?
- Theo tôi, với quy mô nguồn lực lớn, điều quan trọng không chỉ là phân bổ được vốn mà phải bảo đảm nguồn vốn đi đúng địa bàn, đúng đối tượng, đúng nhiệm vụ và tạo ra kết quả thực chất. Ngay từ khâu phân bổ phải bám sát mục tiêu chương trình, mức độ khó khăn, nhu cầu thực tế và khả năng tổ chức thực hiện; không phân bổ bình quân, không dàn trải, không để trùng lặp giữa các chương trình, dự án hoặc giữa các nguồn vốn.
Trong quá trình thực hiện, công tác điều phối, theo dõi và giám sát phải tập trung vào những nơi có nguồn vốn lớn, tiến độ chậm, giải ngân thấp hoặc có nguy cơ không đạt mục tiêu. Những nhiệm vụ không còn nhu cầu, chậm triển khai hoặc không có khả năng giải ngân phải được rà soát để xử lý theo thẩm quyền.
Quan trọng hơn, hiệu quả của chương trình không thể chỉ đo bằng tỷ lệ giải ngân mà phải nhìn vào những thay đổi thực chất, cụ thể ở cơ sở mà cuối cùng là người dân được thụ hưởng: Hạ tầng có phát huy hiệu quả không, sinh kế có bền vững không, thu nhập và điều kiện sống của người dân có được cải thiện không… Đó mới là thước đo cuối cùng của việc sử dụng hiệu quả nguồn lực chương trình.
- Trân trọng cảm ơn ông!



























