Người về mang tới niềm vui…!
Trong hai năm 1950, 1951, có ba bài hát cùng tên Ca ngợi Hồ Chủ tịch của Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Đỗ Nhuận. Mỗi nhạc phẩm có một cách tiếp cận riêng. Bài của Văn Cao dựa trên cái tứ năm 1941 - Bác về nước đem ánh sáng giải phóng, để rồi bốn năm sau là Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, làm đổi thay lịch sử dân tộc. Bài hát mang vẻ thành kính, trang nghiêm nhưng tràn đầy niềm vui, tươi tắn, trong sáng: 'Người về mang tới niềm vui/Mùa thu nắng tỏa Ba Đình…'

Dù Bác đã đi xa, nhưng “Hình Bác Hồ còn mãi trong tim ta”. Ảnh: ST
Sau khi bắt gặp Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, con đường cứu nước đã trở nên rõ ràng trong nhận thức, vì thế trở về nước để cứu nước là khát vọng cháy bỏng của Nguyễn Ái Quốc. Người đã từng tìm cách trở về nhưng chưa thuận lợi. Trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18/02/1930, Người nêu rõ: “Hai lần tôi thử về Việt Nam nhưng phải quay trở lại. Mật thám và cảnh sát ở biên giới rất cảnh giác, đặc biệt là từ khi có vụ Việt Nam Quốc dân đảng”.
Được sự đồng ý của Quốc tế Cộng sản, ngày 29/9/1938, Nguyễn Ái Quốc rời Mát-xcơ-va (Nga) về Trung Quốc. Sau khi bắt liên lạc với Ban Chỉ huy Hải ngoại của Đảng (do đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách), Người về Côn Minh. Ngày 20/6/1940, Đức xâm lược Pháp. Thời cơ về nước đã đến. Sau khi cân nhắc kỹ, Người quyết định chọn hướng Cao Bằng - nơi hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi cả trước mắt và lâu dài.
Đồng chí Hoàng Văn Thụ, phái viên của Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ trong nước sang (làng Tân Khư, Tĩnh Tây - Trung Quốc), báo cáo với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về tình hình trong nước, công việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ tám, đồng thời đề nghị về nước theo hướng Cao Bằng. Theo đồng chí Hoàng Văn Thụ, nơi đây có địa lý thuận lợi, trình độ giác ngộ của nhân dân tương đối cao, đội ngũ cán bộ lãnh đạo có bản lĩnh chính trị tốt.
Trước đó một tháng, Nguyễn Ái Quốc cử đồng chí Vũ Anh về Cao Bằng tìm địa điểm là hang Cốc Bó thuộc bản Pác Bó. Hang thông ra một con đường bí mật sang bên kia biên giới, có thể rút lui an toàn; đồng bào bản Pác Bó sẽ là “một hàng rào quần chúng bảo vệ rất tốt”.
Chiều 28/01/1941, trong bộ quần áo chàm của đồng bào dân tộc, Nguyễn Ái Quốc cùng đoàn người lặng lẽ, xúc động vượt biên giới qua cột mốc 108, về bản Pác Bó. Đồng chí Vũ Anh đón Người về một nhà dân trong bản. Ngày 08/02/1941, với bí danh Già Thu, Nguyễn Ái Quốc lên sống và làm việc tại hang Cốc Bó - một địa điểm lịch sử đúng nghĩa “đầu nguồn”.
Người đổi tên suối Giàng thành suối Lê-nin, đặt tên ngọn núi cao phía trên hang là núi Các Mác. Pác Bó trở thành chiếc nôi của cách mạng Việt Nam, là miền thượng nguồn của dòng sông lịch sử cách mạng. Chính tại nơi này, Bác Hồ đã đặt viên gạch đầu tiên cho nền móng vững chắc, dựng nên những “cây cột” cường tráng của ngôi nhà cách mạng: Hội nghị Trung ương 8, Việt Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Cách mạng Tháng Tám… Việc chọn Cao Bằng làm “căn cứ địa” đầu tiên cho thấy tầm nhìn chiến lược của Bác Hồ và Đảng ta trong việc tạo thế thắng lợi lâu dài. Pác Bó trở thành “đại bản doanh” của căn cứ Việt Bắc.
Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Bác Hồ với Cao Bằng” năm 1995 có ghi lại bài phát biểu xúc động của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi về thăm Cao Bằng và Pác Bó: “Tôi có đi lên thăm hang Cốc Bó và cố vào trong hang để nhìn lại khối đá mà Bác tạo nên bức tượng Các Mác. Trong những giờ phút đó, ngồi lại trên cái giường, bây giờ nghĩ lại tôi vẫn còn nhớ nhiều đêm đông lạnh lẽo trên cái giường này tôi đã cùng nằm nói chuyện với Bác” (Phúc Khang - Hang lạnh nhớ tay người đốt củi, Báo Cao Bằng, ngày 23/8/2018).
Sự kiện Nguyễn Ái Quốc về nước được coi là dấu mốc lịch sử trọng đại của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Từ đây, cách mạng Việt Nam bước sang trang mới; con tàu cách mạng có người cầm lái vững vàng vượt qua mọi phong ba; dân tộc Việt Nam có vị Lãnh tụ dẫn lối chỉ đường đi lên độc lập, tự do và hạnh phúc.
Tất yếu, sự kiện ấy trở thành nguồn cảm hứng lớn cho văn chương nghệ thuật. Nhà thơ Tố Hữu trong Theo chân Bác đã viết nên những vần thơ tinh tế, cảm động diễn tả khoảnh khắc đi vào lịch sử: “Ôi sáng xuân nay, Xuân 41/ Trắng rừng biên giới nở hoa mơ/ Bác về… Im lặng. Con chim hót/ Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ”.
Với phong cách giàu chất suy tưởng, Chế Lan Viên đã nâng hình tượng Bác Hồ khi về đến biên giới Cao Bằng thành biểu tượng lớn lao, kỳ vĩ của lịch sử và chân lý: “Kìa, bóng Bác đang hôn lên hòn đất/ Lắng nghe trong màu hồng, hình đất nước phôi thai” (Người đi tìm hình của Nước).
Trong Thăm Pác Bó, Xuân Diệu khắc họa Bác với tầm vóc vĩ nhân “nghĩ cho muôn đời”: “Một vùng thuần khiết non xanh/ Như mang ánh mắt tinh anh Bác Hồ/ Hãy còn bàn đá nhấp nhô/ Bác ngồi dịch sử, nghĩ cho muôn đời…”.
Là “cánh chim đầu đàn” của văn học dân tộc thiểu số, Nông Quốc Chấn có Bài thơ Pác Bó. Với lối so sánh gần gũi nếp cảm, nếp nghĩ của đồng bào, bài thơ đi sâu vào lòng người: “Núi cao bao nhiêu ngọn/ Núi bao nhiêu hang sâu/ Khi Cụ Hồ chưa đến/ Ai biết đâu là đâu!/ Nước trong xanh dòng suối/ Trải mưa nắng bao đời/ Khi Cụ Hồ chưa tới/ Ai biết dòng đầy vơi/ Từ khi hang Cốc Bó/ Được đón tiếp Già Thu/ Từ đấy tên Pác Bó/ Gắn với tên Cụ Hồ...”. Phép tu từ so sánh trước và sau khi Cụ Hồ đến, cùng là không gian trời đất núi non, nhưng trong cảm nhận của con người thì khác hẳn nhau, đã nâng tầm đối tượng miêu tả ngang tầm với thiên nhiên vũ trụ: Bác về mọi người mới nhận ra núi cao như thế, hang sâu như vậy… Hình tượng được miêu tả vừa lớn lao, cao cả vừa gần gũi, bình dị: Bác về mang đến sự nhận thức mới mẻ cho mọi người, trước đó không ai nhận ra.
Tứ thơ đặc sắc bật lên ở câu: “Người đi vòng quả đất/ Người về mở cửa hang/ Mở muôn ngàn con mắt/ Đón cờ đỏ sao vàng!” Câu chữ giản dị, mộc mạc mà hàm chứa ý nghĩa lớn lao.
Nhà thơ Bàn Tài Đoàn, người dân tộc Dao Tiền, trong bài Bác Hồ ở mãi trong lòng ta, cũng triển khai hình tượng “Bác về” như một bản lề lịch sử - khép mở hai thế giới đối lập: Tối và sáng, cũ và mới, đau khổ và hạnh phúc. Dù Bác đã đi xa, nhưng “Hình Bác Hồ còn mãi trong tim ta”.
Viết về Bác Hồ là một kho tàng đồ sộ. Riêng viết về sự kiện Bác về nước, nếu tập hợp lại, có thể thành một tuyển tập giá trị. Bởi Bác thật sự vĩ đại; mỗi bước đi của Người đều gắn với những bước ngoặt lịch sử của dân tộc. Ngày 28/01/1941 chính là “bản lề lịch sử”, khép lại trang tăm tối, mở ra chân trời tương lai sáng lạn, rực rỡ cho dân tộc Việt Nam./.































