Ngòi bút giữa ngục tù và lửa đạn

Hơn 100 năm qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã đồng hành cùng vận mệnh dân tộc bằng bản lĩnh, trách nhiệm và sự hi sinh của nhiều thế hệ người cầm bút.

Lễ dâng hương tri ân các anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ yêu nước đã hi sinh tại nhà tù Hỏa Lò.

Lễ dâng hương tri ân các anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ yêu nước đã hi sinh tại nhà tù Hỏa Lò.

Từ căn gác nhỏ ở Quảng Châu nơi báo Thanh Niên ra đời năm 1925 đến những trang báo viết dưới ánh đèn leo lét trong nhà tù Sơn La hay những tòa soạn dựng sát chiến hào giữa cuộc kháng chiến, lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam là câu chuyện về ý chí, lòng dũng cảm và sự hi sinh.

Trưng bày chuyên đề “Bút thép, lòng son” đang diễn ra tại Di tích Nhà tù Hỏa Lò gợi lại hành trình ấy qua những trang báo được viết bằng niềm tin và đôi khi bằng máu của người cầm bút.

Những trang báo sau song sắt

Ngày 21/6/1925, tại số 13 đường Văn Minh ở Quảng Châu (Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho xuất bản số đầu tiên của báo Thanh Niên. Từ căn gác nhỏ ấy, một dòng chảy mới bắt đầu trong lịch sử báo chí Việt Nam.

Không chỉ là một tờ báo, Thanh Niên trở thành phương tiện truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, phổ biến tinh thần Cách mạng Tháng Mười Nga và định hướng phong trào yêu nước. Những số báo được bí mật chuyển về Việt Nam đã góp phần giác ngộ thanh niên, công nhân, nông dân, tạo cơ sở tư tưởng cho phong trào cách mạng.

Trưng bày “Bút thép, lòng son” mở cửa phục vụ công chúng đến hết ngày 15/11/2026.

Trưng bày “Bút thép, lòng son” mở cửa phục vụ công chúng đến hết ngày 15/11/2026.

Từ dấu mốc ấy, báo chí cách mạng Việt Nam hình thành và phát triển song hành với những bước ngoặt dân tộc. Trong cao trào cách mạng những năm 1930, thời kỳ Mặt trận Dân chủ 1936 - 1939, giai đoạn chuẩn bị Tổng khởi nghĩa Tháng Tám hay hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, báo chí luôn là tiếng nói của Đảng, của nhân dân và của khát vọng độc lập dân tộc.

Điều đặc biệt là lịch sử ấy không được viết trong những tòa soạn khang trang hay điều kiện làm việc thuận lợi. Trái lại, nhiều trang báo quan trọng nhất của báo chí cách mạng lại ra đời trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.

Tháng 2/1941, tại nhà tù Sơn La, dưới sự chỉ đạo của chi bộ nhà tù, nhiều hoạt động được tổ chức nhằm giữ vững tinh thần cho các tù nhân chính trị. Trong số đó có một ý tưởng táo bạo, là xuất bản một tờ báo ngay trong ngục tù.

Ba tháng sau, báo Suối Reo ra đời. Không có nhà in, không có máy móc, thậm chí không có điều kiện vật chất tối thiểu, tờ báo được viết tay trên những tờ giấy nhỏ. Theo quy định nhà tù, sau 20 giờ đêm mọi ánh đèn đều phải tắt. Công việc làm báo chỉ có thể tiến hành trong bóng tối.

Dưới ánh sáng yếu ớt của một ngọn đèn được che kín ở góc buồng giam, những người tù cộng sản lặng lẽ viết bài, vẽ minh họa, trình bày trang báo. Có những đêm công việc kéo dài đến 3 giờ sáng. Bên ngoài luôn có người cảnh giới để kịp thời báo động nếu lính canh xuất hiện.

Suối Reo chỉ là một trong nhiều dấu ấn đặc biệt của báo chí cách mạng trong lao tù. Tại nhà tù Hỏa Lò, các chiến sĩ cách mạng từng xuất bản những tờ báo bí mật như: Lao tù tạp chí, Con đường chính, Đời tù, Xuân tù. Ở Côn Đảo có: Ý kiến chung, Người tù đỏ, Sinh hoạt, Xây dựng; tại Buôn Ma Thuột có “Doãn Đê”; ở Kon Tum có “Ngọ báo” truyền miệng...

Thiếu giấy, thiếu mực, thiếu phương tiện, đối mặt với đòn roi và sự kiểm soát khắt khe của nhà tù thực dân, những người tù chính trị vẫn tìm mọi cách để xuất bản báo chí. Ngòi bút khi ấy trở thành một thứ vũ khí đặc biệt, góp phần “bẻ gãy” gông cùm bằng sức mạnh của tư tưởng và niềm tin.

Nhiều bạn trẻ đến tham quan trưng bày để hiểu hơn về lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam.

Nhiều bạn trẻ đến tham quan trưng bày để hiểu hơn về lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam.

Ngòi bút giữa lửa đạn

Nếu lao tù là nơi thử thách ý chí, thì chiến trường lại là nơi thử thách lòng dũng cảm của người làm báo. Trong các cuộc kháng chiến, báo chí luôn hiện diện ở những nơi gian khó nhất. Những “tòa soạn chiến hào” được dựng lên giữa núi rừng, bên chiến tuyến hay dưới những căn hầm sâu.

Tại chiến khu Việt Bắc, những tờ báo được in ấn và phát hành trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Trạm phát hành báo Cứu Quốc sử dụng xe đạp để chuyển báo tới nhiều địa phương. Trên đồi Ngựa Hí ở Mường Phăng, tòa soạn tiền phương của báo Quân đội nhân dân hoạt động trong những căn hầm sâu giữa Chiến dịch Điện Biên Phủ. Từ cuối năm 1953 đến tháng 5/1954, 33 số báo đặc biệt được xuất bản ngay tại mặt trận.

Trong kháng chiến chống Mỹ, những cơ quan báo chí như Đài Phát thanh Giải phóng, Thông tấn xã Giải phóng, báo Giải phóng hay các cơ quan báo chí tại Trung ương Cục miền Nam tiếp tục làm nhiệm vụ thông tin trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt.

Ở nhiều nơi, phóng viên phải tác nghiệp dưới bão lửa bom đạn, di chuyển liên tục để tránh sự truy kích của đối phương. Nhiều người vừa là nhà báo, vừa là chiến sĩ. Một trong những phần xúc động nhất của trưng bày “Bút thép, lòng son” là câu chuyện về các nhà báo - liệt sĩ.

Nhà báo Trần Kim Xuyến (1921-1947), Phó Giám đốc Nha Thông tin Việt Nam, được xem là nhà báo đầu tiên của Việt Nam Thông tấn xã hi sinh trong kháng chiến chống Pháp. Tháng 3/1947, khi quân Pháp tấn công khu vực chùa Trầm, ông tình nguyện ở lại tổ chức sơ tán tài liệu. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông trúng đạn và hi sinh.

Tư liệu về nhà báo Bùi Đình Túy hi sinh năm 1967 tại chiến trường miền Nam.

Tư liệu về nhà báo Bùi Đình Túy hi sinh năm 1967 tại chiến trường miền Nam.

Nhà báo Bùi Đình Túy (1914 - 1967), Phó Giám đốc Thông tấn xã Giải phóng, ngã xuống trên đường công tác tại chiến trường miền Nam năm 1967.

Nhà báo Phạm Thị Ngọc Huệ (1946 - 1968) từ bỏ giảng đường đại học để tình nguyện vào tuyến lửa Trường Sơn. Sau này trở thành phóng viên báo Trường Sơn, bà hi sinh khi mới 22 tuổi.

Nhà báo Dương Thị Xuân Quý (1941 - 1969), phóng viên báo Phụ nữ Việt Nam, viết đơn xin vào chiến trường Khu 5 năm 1965. Bà luôn có mặt ở những địa bàn ác liệt nhất trước khi hi sinh ở tuổi 28 trong một trận càn của địch.

Nhà báo ảnh Lương Nghĩa Dũng (1934 - 1972), tác giả của nhiều bức ảnh chiến tranh nổi tiếng, ngã xuống tại mặt trận Quảng Trị mùa hè năm 1972.

Có những nhà báo hi sinh khi trên tay vẫn còn ôm hộp phim, có người ngã xuống trên đường chuyển tài liệu, có người ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Máu của họ đã thấm vào những trang báo, những khuôn hình, những dòng tin từ chiến trường. Sự hi sinh ấy góp phần làm nên truyền thống đặc biệt của báo chí cách mạng Việt Nam, đó là tinh thần dấn thân vì Tổ quốc và vì sự thật.

Trần Hòa

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/ngoi-but-giua-nguc-tu-va-lua-dan-post781873.html