Nghiêu Đề - lặng lẽ tài hoa

Trong Hội Họa sĩ trẻ hoạt động tại Sài Gòn trước năm 1975, họa sĩ Nghiêu Đề thuộc về góc khuất âm thầm nhưng tỏa sáng nhất qua thời gian.

Ông nổi danh sớm, tài hoa trong sáng tạo với những tác phẩm hội họa có bản sắc, những bài thơ u uẩn gân guốc và cả một tập truyện. Ông sớm ra nước ngoài từ giữa thập niên 1980. Từ đó, những bài viết về ông ít hẳn trong nước, chủ yếu xuất phát từ các nhà văn, nhà báo hải ngoại và từ người mẫu tranh của ông - cũng là người vợ tào khang đi bên cạnh ông đến cuối đời.

Nghiêu Đề là ai? Bạn của ông, nhà văn Ngô Thế Vinh viết: “Nghiêu Đề tên thật Nguyễn Tiếp, Trai là tên gọi ở nhà, sinh năm 1939 tại Quảng Ngãi. Là con trai trưởng trong một gia đình 6 anh chị em. Học Cao đẳng Mỹ thuật Gia Ðịnh nhưng đã tự rời trường ốc trước khi tốt nghiệp; là một trong những sáng lập viên Hội Họa sĩ trẻ Việt Nam; Huy chương bạc Hội họa mùa xuân 1961, từng tham dự triển lãm tại nhiều quốc gia. Ngoài hội họa, Nghiêu Ðề còn viết văn, làm thơ mà sau này Nghiêu Đề coi như hai “bước lỡ” không nên dấn thân vào. Tác phẩm đã xuất bản: Ngọn tóc trăm năm (Sài Gòn, 1965). Nghiêu Ðề cùng gia đình đến Hoa Kỳ năm 1985 và mất vào ngày 9.11.1998 tại San Diego, California khi chưa tới tuổi 60”.

Tuy nhiên, điều khó lý giải chính là nghệ danh kỳ lạ, gây thắc mắc của ông. Hiểu theo lẽ thông thường, đây là cái tên mang phong vị cổ điển, gợi lên hình ảnh một người có tâm thế thanh cao, hướng về giá trị xa xưa và chuẩn mực. Họa sĩ Thái Tuấn chiết tự: “Nghiêu là ngọn núi cao, Đề là dẫn lên” và ban đầu cho rằng “cái bút hiệu nghe có vẻ cao ngạo”. Du Tử Lê thắc mắc, hỏi thẳng và: “Ông giải thích một cách khiêm tốn, rất Nghiêu Đề, là “làm biếng”. Không hiểu từ đâu ra ý nghĩa đó! Họa sĩ kiêm nhà phê bình nghiêm khắc Thái Tuấn, sau khi lý giải tên của Nghiêu Đề, khẳng định: “Nhưng khi gặp gỡ thì lại hoàn toàn khác - trầm tĩnh, lạc quan, và thâm thúy - tôi vẫn tin người và tranh chỉ là một: nét vẽ là tấm kính để tìm bóng dáng của họa sĩ” (Bóng dáng Nghiêu Đề).

Họa sĩ Nghiêu Đề (1939 - 1998)

Họa sĩ Nghiêu Đề (1939 - 1998)

Khi sáng tác, Nghiêu Đề được cho là: “người thích dùng những màu tối, lạnh lẽo và màu chết” như Thái Tuấn khẳng định. Nhà phê bình nghệ thuật này luôn tìm ra được những nghịch lý khi nhận xét về họa sĩ này: “Nhưng chính bằng những gam màu lạnh, có khi tối tăm trong tranh Nghiêu Đề, bàng bạc trong đó là sự nồng nàn thiết tha, như bức Tỏ tình, bức Đêm”.

Tuy nhiên, Nghiêu Đề không chỉ dùng những màu tối tăm, lạnh lẽo. “Hồi đầu 1960 tôi coi những bức tranh Nghiêu Đề tràn ngập một màu xanh. Cây xanh. Nhà xanh. Những thiếu nữ xanh. Trong một không gian vầng trăng xanh như ngọc. Người cầm cọ và mẫu muốn thu cả kinh nghiệm sống vào những khối xanh thẳm giữa bốn cạnh một miếng vải bố. Một nỗ lực bắt lấy cái vô tận trong một không gian hữu hạn, trong chốc lát gắng vươn lên chạm tới cõi vô cùng”. Nhân chứng cho thời kỳ này là nhà văn Đỗ Quý Toàn trong bài viết Nghiêu Đề, vẻ đẹp nỗi phù du đã có một hồi tưởng rất quý. Trong hội họa Á Đông, màu xanh ngọc hay xanh men gốm đại diện cho thanh cao, bền vững và cốt lõi của người quân tử. Có thể lúc đó, họa sĩ đã tìm thấy sự cân bằng trong cảm xúc và cuộc đời.

Một người tài hoa như ông, vẽ tranh vẫn chưa đủ là cách thức trọn vẹn để nói lên cảm xúc đó, mà phải là thơ, là văn. Ông làm thơ, nói lên tiếng lòng reo vui thời kỳ này:

… nhà ta có cánh bay đầy núi
rừng giấu con đường xúm xít vui xưa
trăng đi biệt có hàng phố nhớ
bụi bay, vàng con ngõ, ngày mưa…

Mười năm trọn thập niên 1960 là giai đoạn rực rỡ của Nghiêu Đề. Ông và bè bạn có chung niềm đam mê hội họa đã thành lập Hội Họa sĩ trẻ Việt Nam từ 1962. Ông cùng bạn bè như có riêng một không gian nghệ thuật để làm mới, làm thăng hoa cho nền hội họa Việt Nam.

Gặp gỡ

Năm 1970, Nghiêu Đề mới hơn 30 tuổi. Ở đó, lần đầu tiên ông gặp một cô gái còn rất trẻ mà sau này sẽ gắn bó với ông suốt cuộc đời, cùng vượt qua bao khó khăn của cuộc sống và đưa ông đi tới chặng cuối đến “vùng thanh thoát”.

Đó là lần triển lãm mùa xuân của Hội Họa sĩ trẻ ở trung tâm Alliance Française Sài Gòn. Cá tính đặc biệt của Nghiêu Đề luôn thu hút tất cả những ai chung quanh ông. Cách nói chuyện, phân tích hay nhận định về mọi vấn đề của ông rất đa dạng, sâu sắc và vô cùng thâm thúy nhưng lại được diễn tả qua phong thái dí dỏm, đầy duyên dáng làm bạn bè phải cười, những nụ cười sảng khoái và thú vị, có khi đầy ẩn ý những điều cay đắng…

Cô gái 17 tuổi Lê Chiều Giang, sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, bị thu hút vì vẻ hấp dẫn đó. Cô hồi tưởng, mùa xuân 1970, thay vì chiều Chủ nhật hôm đó phải đi lễ, cô “bỏ ngang xương” không đến Nhà thờ Đức Bà mà với Mùa Xuân của Họa sĩ trẻ. Cô tự thấy “tôi nhỏ xíu, tôi bé xíu. Cũng chẳng có nghĩa những bóng lớn của Hội Họa sĩ trẻ đó đã che hết dáng tôi, cô học trò xinh xinh chen chân, nhón gót xem tranh với một tâm hồn đẹp ngời, tinh khiết. Tôi mượt mà, tóc bay và mắt ướt, tôi thơ mộng như những thiếu nữ trong tranh. Tôi có thấp thoáng chút yêu kiều, thời của những Chagall, Pissarro, Cezanne, Matisse… Và ngay cả rất xa xưa, Rembrandt”.

Ở đó, những bức tranh với tên gọi bàng bạc như thơ. Trịnh Cung với Vương hương; Trăng, Chim, Hoa và Nàng của Đinh Cường; Nghiêu Đề với Vùng thanh thoát; và Nguyễn Trung của Đêm chân không. Cô mê những bức tranh cổ điển của họa sĩ Đỗ Quang Em. Ánh sáng và bóng tối, lạnh toát hay vắng tanh, ông đã làm ấm lại trong tranh chỉ với chút ánh đèn dầu le lói. Tranh Cù Nguyễn đẹp như một thinh lặng, gắn bó cùng nỗi chết, đâu đó mãi tận cuối chân trời.

Nhà thơ - nhà văn Lê Chiều Giang, 1971 (*)

Nhà thơ - nhà văn Lê Chiều Giang, 1971 (*)

Với Nghiêu Đề, cô thoáng nhận ra, sau này càng đậm sâu nhận định của mình về người họa sĩ này. Ông sống khơi khơi như một cuộc vui chơi cùng màu sắc, không muốn tiếp tục theo những khuôn mẫu nhất định của trường ốc nên đã không tham dự cuộc thi tốt nghiệp và không coi trọng danh vọng. Sau, cô tới nhà ông để học bài cho trường thi, lớp học và nhân đó ông đã phác họa hình dáng cô. “Người mẫu, chỉ là một cách để diễn tả mọi bức tranh sau này anh vẽ đều thấp thoáng chân dung tôi, hình ảnh tôi trong tranh không khô khan như một chân dung thuần túy, mà luôn được biến hóa, cách điệu nhưng rất nhịp nhàng để hình dáng tôi được thăng hoa hơn theo tiết tấu của tranh và màu sắc”. Từ đó, cô đi vào đời sống của Nghiêu Đề, vừa là người mẫu vừa là người yêu.

Những ngày đầy ắp hạnh phúc

Qua năm sau, họ về chung nhà. Lê Chiều Giang hồi tưởng: “Chúng tôi sống nghèo nhưng vô cùng hạnh phúc từ 1972, ban đầu ở Lý Trần Quán, Tân Định, sau hai năm chúng tôi dời lên cư xá Thanh Đa sống tới ngày đi Mỹ, năm 1985”. Bà nhắc lại thời hạnh phúc đó trong một bài phỏng vấn: “…Thanh Đa, chúng tôi sống trên một chung cư lầu ba, nơi mà, mỗi sáng nhìn dòng sông với mặt trời soi rọi rất đẹp của bình minh, tôi vẫn cảm nhận ra chút dịu dàng, cho dù đời sống lúc nào cũng như một chảo lửa đốt cháy hết sự sống của cả một quê hương… Sông Thanh Đa có chiếc ghe của bà Mười đưa khách từ Làng Báo chí qua lại. Với chiếc ghe nhỏ xíu đó, chị Nguyễn Thị Thụy Vũ và anh Nguyễn Đình Toàn đến chơi Thanh Đa thường hơn. Mỗi lần chị đứng bên kia sông réo gọi, và anh Toàn đưa tay vẫy... Chúng tôi luôn có với nhau những bữa cơm rất tội nghiệp, chỉ một tô canh thôi, và tôi thường phải giải thích với chị Thụy Vũ: “Thấy chị qua em đã thêm nước vô cho nó nhiều”, “Những đêm trăng, chúng tôi cùng xuống chiếc ghe nhỏ với cây guitar của Trần Quang Lộc hát hò tới nửa đêm.

Từ trái, các họa sĩ: Tố Oanh, Nghiêu Đề, Cù Nguyễn, Trần Kim Hùng trong một cuộc triển lãm tại Sài Gòn trước 1975. Ảnh tư liệu: Tuấn Nhiphong

Từ trái, các họa sĩ: Tố Oanh, Nghiêu Đề, Cù Nguyễn, Trần Kim Hùng trong một cuộc triển lãm tại Sài Gòn trước 1975. Ảnh tư liệu: Tuấn Nhiphong

Nhạc Nguyễn Đình Toàn được hát bởi Khoa, bạn của Trần Quang Lộc. Anh Duy Trác không bao giờ hát... dưới ghe, nên anh Toàn, Khoa, Lộc và tôi thay nhau hát. Hát say mê dưới trăng sáng mơ màng trên sông, hiu hiu chút gió và tiếng khua nước của ghe chèo… Bóng trăng có khi bị che khuất bởi những tàn cây ven sông, và bóng tối như đã ôm ấp tiếng hát nghìn trùng của chúng tôi, trải dài những âm vang dặt dìu xuôi theo dòng nước (trích bài Nghĩ với Trần Quang Lộc trong cuốn Không đứng mãi trong tranh).

Cô song hành với anh trong những giây phút tuyệt vời: “… Năm 1974, anh Lê Tài Điển từ Pháp về, ngồi với anh Nghiêu Đề và tôi ở phòng tranh La Dolce Vita, phía sau hotel Continental Palace. Đặc biệt của La Dolce Vita là họ rất chuyên nghiệp và kỹ lưỡng về ánh sáng cho góc độ của từng bức tranh. Ánh sáng hài hòa đã làm nổi bật, ấm áp, và như làm đẹp thêm cho những tác phẩm của Hội Họa sĩ trẻ, khiến anh Lê Tài Điển muốn ngồi lại mãi, dù phòng tranh đã tới giờ đóng cửa.

Anh dặn dò: “Cô đừng bao giờ quên, hạnh phúc và may mắn nhất của chúng ta là, được ngồi chung quanh những bức tranh, những tác phẩm tuyệt vời...”. Tôi cafe mỗi sáng, rượu đỏ mỗi tối bên những tranh của Đỗ Quang Em, Nguyễn Trung, Đinh Cường, Nguyễn Lâm, Ngy Cao Uyên, Nguyễn Phước (…). Họ điềm đạm ngồi uống với tôi, nhắc lại cùng tôi những điều rất xa xôi, từ trăm năm cũ”. Ngoài những giờ đam mê cùng hội họa, đôi vợ chồng trẻ thích gặp bạn bè để có những niềm vui bên ly cà phê và cùng “cười tung cười tóe bên những câu nói rất ý nhị của anh Nghiêu Đề trong mọi hoàn cảnh của đời sống”.

Sơn mài Nghiêu Đề sau 1975

Sự kiện năm 1975 đã đảo lộn tất cả. Hai vợ chồng cùng ba con nhỏ ngoan hiền đi qua chặng đường mười năm khổ sở sau đó bằng mọi cách. Khoảng từ năm 1982 đến 1984, Nghiêu Đề thực hiện một số tranh sơn mài khá đẹp. Lúc đó, ba họa sĩ trong Hội Họa sĩ trẻ là Nguyễn Lâm, Hồ Hữu Thủ và Nghiêu Đề được mời hợp tác từ Sở Công Thương đặt tranh sơn mài để bán ra Âu châu. Họ sáng tác tranh sơn mài như vẽ sơn dầu, không đi theo đường mòn với dạng tranh tứ bình hay các hình tượng cũ như tranh Thành Lễ hay các hãng sơn mài Bình Dương trước đây.

Sơn mài 1971

Sơn mài 1971

Nghệ thuật tranh sơn mài từ đó thăng hoa, bỏ đi những sáo mòn để thực hiện những bức tranh với đề tài, nội dung, bố cục và màu sắc phong phú như tranh sơn dầu. Đây cũng là bước tiến cho sơn mài Việt. Riêng về tranh Nghiêu Đề, theo nhà phê bình mỹ thuật Huỳnh Hữu Ủy, loạt sơn mài này “vẫn là tiếp tục không khí của anh từ trước đến nay, chỉ có điều hơi khác là mặc dầu màu sắc chủ yếu vẫn là xanh xám, lạnh và u buồn, đã có những mảng màu đỏ, vàng, xanh dương, xanh lục pha trộn đây đó trên toàn bộ tấm tranh”. Những tấm tranh thực hiện tại xưởng vẽ của họa sĩ Hồ Hữu Thủ, để chuẩn bị mang theo với hành trang di dân. Trong “tình thế mới có reo vang đôi chút”.

Những mộng ước dở dang trên quê mới

Năm 1985, gia đình Nghiêu Đề đi định cư ở Hoa Kỳ, bắt tay xây dựng cuộc sống mới. Nghiêu Đề rất muốn vẽ lại, nhưng không muốn tiếp tục theo những khuôn mẫu cũ nên đã cố công tìm cho mình một đường hướng sáng tác mới, nhưng không dễ dàng gì. Do đó ông sáng tác không nhiều. Nhưng trớ trêu thay, trên đất mới định cư, Nghiêu Đề bắt đầu chịu những cơn bệnh, kéo dài tới năm 1998 và mất ở tuổi 59. Ông ra đi khi chân dung cô con gái út chưa kịp hoàn tất. Bức tranh dang dở, những dự định dang dở, như cuộc đời của ông chưa kịp đi tới tận cùng.

Tranh sơn dầu Nghiêu Đề, 1982

Tranh sơn dầu Nghiêu Đề, 1982

Lê Chiều Giang nhớ trong suốt cuộc đời nghệ thuật, Nghiêu Đề không mảy may quan tâm thiên hạ sẽ nghĩ gì về tác phẩm của mình, mà chỉ vẽ cho những cảm xúc của riêng ông. Dù vậy, ông trân trọng từng bức tranh đang sáng tác, chỉ cần không thích một chi tiết nào đó là có thể thức suốt đêm để vẽ lại. Họa sĩ Thái Tuấn nhận thấy điều đó: “... Trong số những họa sĩ tôi quen biết, có lẽ Nghiêu Đề là người ít triển lãm tranh nhất. Rất trân trọng trong việc sáng tác nên ít tranh đã đành, nhưng có khi thật như anh đã nói: “Sinh ra đâu phải để làm họa sĩ? Chỉ vẽ khi thích vẽ, còn không thì rong chơi”. Ông “lang thang qua Thơ, dạo chơi trong Văn chương”.

Nghiêu Đề trả lời Nguyễn Ngu Í trên tạp chí Bách Khoa (15.9.1962): “Ở quê tôi, có một giống chim lạ. Sắc trắng và dáng mỏng manh lắm, thường bay một mình trong những đêm trăng. Người ta bảo rằng nó bay mãi lên cao và tan biến vào trăng, để không còn bao giờ trở lại. Tên nó là Nguyệt, tiếng hót hay vô cùng. Không biết vì sao tôi yêu nó, chỉ biết mỗi lần nó bay ngang cùng tiếng hát đã làm tôi xúc động (…). Bây giờ tôi nghĩ, Nghệ Thuật tôi muốn là một cái gì hết sức tự nhiên như tiếng hát của chim Nguyệt vậy...”.

Lê Chiều Giang, sau này trở thành nhà thơ và nhà văn, luôn nhớ lại những bức tranh Nghiêu Đề vẽ chân dung bà. Vì nhu cầu của đời sống đã phải bán đi, bà luôn tiếc nhớ tranh như tiếc thương kỷ niệm. Gia đình còn giữ vỏn vẹn bốn bức tranh của Nghiêu Đề, người chồng và người cha tài hoa. Nhiều người ngỏ ý muốn mua tranh nhưng cả nhà xem như là những bảo vật quý giá vô ngần không muốn rời xa. Ở đó, họ nhìn lại qua những màu sắc và hình tượng, phần nào đó của thế giới tâm hồn lặng lẽ, u uẩn của người thân yêu dù không thể hiểu hết những gì ông đã trải qua và chiêm nghiệm trong cuộc đời ngắn ngủi của ông.

Phạm Công Luận

______________

(*) Hai bức ảnh chân dung và các họa phẩm trong bài do gia đình họa sĩ Nghiêu Đề cung cấp

Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/nghieu-de-lang-le-tai-hoa-52598.html