Nghề mộc độc lạ dưới lớp tàn tro

Giữa những làng nghề xứ Huế ngày một thưa vắng tiếng đục, vẫn còn những người thợ lặng lẽ bám trụ với các nhánh nghề mộc hiếm và kén người theo. Họ níu giữ từng nhát dùi như níu lại phần tinh hoa mỹ thuật gắn với đời sống tâm linh, giữ cho đốm than nghề chưa tắt dưới lớp tàn tro thời cuộc.

Anh Phạm Ngọc Đức đang "lấy âm" cho chiếc mõ khủng. Ảnh: T.S

Anh Phạm Ngọc Đức đang "lấy âm" cho chiếc mõ khủng. Ảnh: T.S

Nhắc đến nghề mộc Huế, người ta thường nghĩ ngay đến những xưởng gỗ làm tủ thờ, bàn ghế, hoành phi, câu đối - những sản phẩm quen thuộc gắn với đời sống thường nhật và không gian đình, miếu.

Nhưng sâu trong các làng nghề cũ, vẫn còn những nhánh nghề mộc cũng “phiêu” với gỗ nhưng lại là một cuộc chơi khác gắn liền với tín ngưỡng và những chuẩn mực thẩm mỹ xưa cũ, được tích lũy qua nhiều thế hệ. Đó là nghề khắc mộc bản tranh làng Sình - nơi người thợ phải “đảo ngược” với tranh thật. Là nghề khảm xà cừ - nơi những mảnh trai, vỏ ốc được cắt nhỏ, ghép lại để tạo nên hiệu ứng ánh sáng độc đáo. Và là nghề làm mõ - nơi người thợ phải “đánh thức” âm thanh từ khối gỗ vô tri.

Những truyền nhân cuối cùng

Ba nghề, ba hướng đi khác nhau nhưng đều có một điểm chung, đó là không phải ai biết làm mộc cũng có thể bước vào.

Ở làng Sình (phường Dương Nỗ), ông Phạm Công Khai gần như là người cuối cùng còn giữ trọn kỹ nghệ khắc mộc bản. Trong trí nhớ của ông là hơn 100 mẫu tranh dân gian, mỗi mẫu gắn với một lớp tín ngưỡng riêng. Những tấm gỗ thị, gỗ mứt dưới tay ông không đơn thuần là vật liệu mà là nơi lưu giữ cả một hệ biểu tượng văn hóa.

Còn ở làng Địa Linh (phường Hóa Châu), ông Khương Văn Lanh vẫn ngày ngày ngồi bên chiếc bàn gỗ cũ, cưa từng mảnh xà cừ nhỏ đến mức phải nheo mắt mới nhìn rõ. Những mảnh trai, vỏ ốc ấy khi ghép lại, không chỉ tạo nên hình ảnh mà còn kể lại những tích xưa, từ Nhị thập tứ hiếu đến cảnh đời thường, từ hoa lá đến phong cảnh…

Trong khi đó, trên ngọn đồi ở Thủy Xuân, tiếng “cốc, cốc, cốc…” vẫn đều đặn vang lên mỗi ngày từ khu vườn nhỏ của 3 anh em họ Phạm (Hải - Đức - Phúc). Hơn 20 năm qua, họ gắn bó với nghề làm mõ tưởng chừng giản đơn nhưng lại đòi hỏi độ tinh tế đặc biệt về cảm âm. Những chiếc mõ gỗ mít sau khi tạo hình bên ngoài sẽ được đục ruột để “lấy tiếng”. Đây là công đoạn khó nhất, bởi đằng sau mỗi nhát dùi là cách người thợ lắng nghe và điều chỉnh âm thanh. “Mõ gia trì là pháp khí dùng trong tụng kinh, bái sám, giúp giữ nhịp và tạo sự thanh tịnh, nên người làm nghề cũng phải giữ tâm tĩnh mới làm ra tiếng hay”, anh Phạm Ngọc Đức chia sẻ.

Ông Phạm Công Khai là nghệ nhân hiếm hoi ở làng Sình còn giữ nghề khắc mộc bản dòng tranh dân gian, tâm linh. Ảnh: T.S

Ông Phạm Công Khai là nghệ nhân hiếm hoi ở làng Sình còn giữ nghề khắc mộc bản dòng tranh dân gian, tâm linh. Ảnh: T.S

Nhất nghệ tinh

Điểm chung dễ thấy ở cả 3 nghề là đều thực hành hoàn toàn bằng thủ công. Nhưng nếu dừng ở đó thì chưa đủ. Điều làm nên giá trị của mỗi sản phẩm nằm ở mức độ tinh vi, trở thành một dạng tư duy kết hợp giữa trí nhớ, trực giác và cảm nhận.

Với khắc mộc bản, thử thách lớn nhất là “khắc ngược”. Người thợ phải nhìn một bức tranh hoàn chỉnh, rồi đảo toàn bộ bố cục trong đầu trước khi giáng đục xuống gỗ. Mọi chi tiết, từ đường nét, chữ nghĩa đến tỷ lệ đều phải được hình dung theo chiều ngược lại. Không có bản nháp, không có cơ hội sửa sai. Chỉ một nhát đục lệch là cả tấm gỗ phải bỏ đi. Đó là quá trình kết hợp giữa trí tuệ và đôi tay, giữa logic và cảm giác, thứ mà máy móc hiện đại không thể nào thay thế.

Với khảm xà cừ, thử thách nằm ở độ nhỏ và độ chính xác đến gần như tuyệt đối. Một bức khảm không đẹp vì nhiều xà cừ mà đẹp ở cách tiết chế ánh sáng. Chỗ nào cần sáng để tạo điểm nhấn, chỗ nào phải dịu để giữ nền, tất cả đều phải được tính toán từ trước khi đặt lưỡi cưa. Những chi tiết nhỏ bằng móng tay vẫn phải thể hiện được thần thái nhân vật, độ dày mỏng của nét chữ, thậm chí cả cảm xúc của một tích truyện. Những đường cong - thứ khó nhất trong khảm không được cắt nguyên miếng mà phải ghép từ nhiều mảnh cực nhỏ. Chỉ cần lệch tay một chút, mảnh xà cừ vỡ, toàn bộ bố cục phải làm lại.

“Khó nhất là những chi tiết nhỏ và đường cong, tất cả đều phải cưa tay. Xà cừ rất giòn, chỉ cần lệch một chút là hỏng, có khi phải ghép từ nhiều mảnh cực nhỏ chứ không thể làm nguyên miếng. Tay nghề nằm ở chính cách cắt đó”, nghệ nhân Lanh nói.

Trong khi đó, nghề làm mõ lại đặt toàn bộ trọng tâm vào phần không nhìn thấy. Một chiếc mõ đẹp ở ngoại hình không quan trọng bằng một chiếc mõ cho ra “tiếng đẹp”. Và thứ âm thanh ấy không thể đo đếm bằng máy móc, càng không thể tính toán bằng công thức. Người thợ phải vừa đục vừa nghe, vừa cảm nhận vừa điều chỉnh. Đục sâu hay nông, thành dày hay mỏng, độ rỗng trong lòng gỗ ra sao, tất cả đều ảnh hưởng đến âm thanh. Có khi phải đục rồi dừng lại để nghe, nghe xong lại chỉnh tiếp, lặp đi lặp lại cho đến khi tiếng “tới”.

“Âm thanh của mõ còn phụ thuộc vào không gian. Có chiếc ở nhà nghe bình thường nhưng vào chùa lại hay. Người thợ vì thế không chỉ làm sản phẩm mà còn phải hiểu cách âm thanh tương tác với không gian tín ngưỡng”, anh Phạm Ngọc Hải kể.

Ba nghề, 3 kiểu kỹ năng khác nhau nhưng đều đòi hỏi độ chính xác cao và cảm nhận rất tinh tế của người thợ. Cũng vì vậy, đây là những công việc không dễ theo đuổi đến cùng. Cũng dễ hiểu, khi người còn bám trụ với nghề ngày càng ít, thậm chí người khắc mộc bản tranh làng Sình như ông Phạm Công Khai giờ chỉ còn mỗi mình ông.

Nghệ nhân Khương Văn Lanh lý giải về những tích tuồng được "vẽ" bằng xà cừ trên chiếc tủ thờ. Ảnh: T.S

Nghệ nhân Khương Văn Lanh lý giải về những tích tuồng được "vẽ" bằng xà cừ trên chiếc tủ thờ. Ảnh: T.S

Giữ nghề, giữ mạch nguồn văn hóa

Điểm chung lớn nhất giữa những nghệ nhân, người thợ không nằm ở tay nghề mà nằm ở lý do họ chọn ở lại với nghề. Tiếp chuyện với chúng tôi, không ai trong số họ nói về chuyện làm giàu. Một bộ mộc bản có thể mất hằng tháng. Một tủ khảm xà cừ có khi mất 3 tháng mới hoàn thiện. Một chiếc mõ phải chỉnh từng chút một trong nhiều ngày. Công sức lớn nhưng thu nhập không tương xứng, trong khi sản phẩm thủ công dễ bị chèn ép bởi thị trường hiện đại. Tiến trình ấy đã có lúc đẩy nghề mộc ra bên lề.

Nghệ nhân Phạm Công Khai kể, khi tranh in máy tràn vào, mộc bản gần như mất đất sống. Ông Khai từng phải bỏ nghề để mưu sinh nhưng bộ đồ nghề vẫn được giữ lại suốt gần 30 năm.

Ở làng Địa Linh, nơi từng có nhiều người làm khảm, nay chỉ còn một mình nghệ nhân Khương Văn Lanh bám trụ.

Với nghề làm mõ, công việc đều nhưng không bao giờ trở thành nguồn thu lớn, bởi mỗi sản phẩm có thể đi cùng người sử dụng hàng chục năm. Nhưng anh em họ Phạm vẫn làm, không phải vì thị trường mà vì nếu dừng lại, mạch nghề sẽ đứt. Họ thấy có lỗi với cha ông. Khi đó, những kỹ thuật truyền đời sẽ không còn người kế tục, chuẩn mực thẩm mỹ gắn với đời sống tâm linh như chiếc mõ sẽ không tìm thấy bất cứ ở đâu nữa…

Nhìn từ những bàn tay còn bám trụ nghề, có thể thấy mỗi nhát đục, mỗi đường cưa không chỉ làm ra một sản phẩm mà đang nối dài một mạch nghề đã tích tụ. Từ mộc bản tranh làng Sình, những mảnh xà cừ ghép kín trên mặt gỗ, đến âm thanh được “lấy” từ lòng một khúc mít già, tất cả đều là những tri thức tồn tại bằng kinh nghiệm, bằng sự khổ công qua năm tháng.

“Còn làm được ngày mô thì tui còn ngồi với nghề ngày đó, không phải để kiếm ăn chi nhiều mà để cái hồn nghề ni còn người tiếp nối. Mình bỏ là coi như đứt mạch, nên còn làm được chút mô hay chút nớ. Biết là chừ ít người theo, cũng lo nghề tắt, nhưng tay còn làm được thì tui còn giữ”, ông Khương Văn Lanh trải lòng.

Ở một góc nhìn khác, những nghệ nhân theo các nhánh mộc kén người này không chỉ là thợ. Họ giống như những “kho lưu trữ sống”, góp phần giữ lại và làm dày thêm mỹ thuật mộc của đất kinh kỳ. Từ đôi tay, đôi tai đến khối óc, tất cả đều là vốn nghề được tích lũy qua năm tháng, khó có thể thay thế. Và cũng vì thế, nỗi lo không chỉ nằm ở chuyện ít người theo nghề, mà là khi những đôi tay ấy dừng lại, những kỹ nghệ hiếm sẽ mất đi, kéo theo một phần hồn của văn hóa Huế lặng lẽ lùi vào quá khứ, như đốm than dưới lớp tro tàn, nếu không còn người “thổi” rồi cũng sẽ tắt đi.

TRƯỜNG SƠN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/nghe-moc-doc-la-duoi-lop-tan-tro-3336909.html