Nghệ An loay hoay nâng giá trị cây dược liệu
Nghệ An có hơn 3.180 héc-ta dược liệu nhưng vùng nguyên liệu còn phân tán, chế biến sâu và đầu ra vẫn là bài toán khó.

Nghệ An có 3.180 héc-ta dược liệu, nhưng để đánh thức tiềm năng, cần gỡ nút thắt từ vùng nguyên liệu đến chế biến và thị trường. Ảnh: Song Hoàng.
Có "kho vàng" nhưng thiếu vùng nguyên liệu
Nghệ An có hệ sinh thái đa dạng, diện tích rừng lớn và nhiều vùng sinh thái phù hợp với các loại cây dược liệu. Không ít loài cây thuốc quý đã được ghi nhận tại miền Tây Nghệ An như sâm Puxailaileng, đẳng sâm, hà thủ ô đỏ, lan kim tuyến, sa nhân tím, bảy lá một hoa, trà hoa vàng...
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An, toàn tỉnh hiện có khoảng 3.632 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có khoảng 1.593 loài cây làm thuốc, chiếm gần 44% tổng số loài thực vật được ghi nhận.

Nhiều vùng dược liệu ở Nghệ An đang được mở rộng, tạo sinh kế cho người dân miền núi. Ảnh: Song Hoàng.
Lợi thế ấy đang từng bước được đưa vào sản xuất. Đến năm 2025, diện tích cây dược liệu trên địa bàn đạt khoảng 3.180 héc-ta. Trong đó, khoảng 1.450 héc-ta được tổ chức sản xuất, liên kết thông qua hợp tác xã (HTX), tổ hợp tác và các mô hình liên kết với doanh nghiệp.
Tỉnh này hiện có trên 40 HTX và khoảng 75 tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực dược liệu, thu hút hơn 600 thành viên và tạo việc làm cho hàng trăm lao động, nhất là tại các huyện miền núi. Nhưng diện tích cây trồng chưa đồng nghĩa với một vùng nguyên liệu ổn định.
Ở nhiều nơi, sản xuất dược liệu vẫn còn phân tán, quy mô nhỏ. HTX muốn đầu tư dài hạn lại gặp khó về đất đai, trong khi thời gian thuê đất của người dân thường ngắn, không phù hợp với đặc thù của cây dược liệu.
Trao đổi với phóng viên, ông Hoàng Kiểm, đại diện HTX Sâm Thổ Hào, cho biết, sau gần 15 năm gắn bó với cây dược liệu, hai vấn đề lớn nhất HTX gặp phải là quy hoạch vùng trồng tập trung và lưu thông, phân phối sản phẩm.
Theo ông Kiểm, với cây dược liệu, năng suất không phải yếu tố duy nhất quyết định giá trị. Quan trọng hơn là hàm lượng hoạt chất, vốn phụ thuộc nhiều vào thổ nhưỡng, khí hậu và quy trình canh tác. "Vì vậy, cần có những vùng trồng được quy hoạch phù hợp, ổn định để HTX có thể đầu tư lâu dài", ông Kiểm nói.
Tại Con Cuông, HTX Dược liệu Pù Mát đang liên kết với 110 hộ dân để xây dựng vùng sản xuất cà gai leo, dây thìa canh rộng 44ha. Người dân được hướng dẫn sản xuất theo kế hoạch và quy trình thống nhất thay vì trồng tự phát.
Tuy nhiên, theo ông Phan Xuân Diện, Giám đốc HTX Dược liệu Pù Mát, để giữ được vùng nguyên liệu, bài toán phải được giải quyết đồng bộ từ quy hoạch, đất đai đến đầu ra.
"Vùng trồng phải phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu, nhu cầu thị trường và nguồn nhân lực. Cùng với đó, địa phương cần chủ động kết nối với doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu dược liệu để bảo đảm đầu ra cho người dân và HTX", ông Diện cho biết.

Ông Phan Xuân Diện cho rằng, cần quy hoạch vùng trồng phù hợp, đồng thời kết nối doanh nghiệp để bảo đảm đầu ra cho người dân và HTX. Ảnh: Song Hoàng.
Đây cũng là khoảng trống lớn giữa diện tích dược liệu đang có và một ngành hàng được tổ chức bài bản. Vừa qua, Liên minh HTX Nghệ An đề nghị tỉnh khảo sát, đánh giá tiềm năng từng vùng, lựa chọn những cây dược liệu có lợi thế và giá trị kinh tế cao để định hướng phát triển.
Cùng với đó là hỗ trợ bảo tồn, nhân giống, cung ứng giống có nguồn gốc rõ ràng và từng bước xây dựng vùng nguyên liệu tập trung do HTX tổ chức sản xuất, hướng tới các nguyên tắc GACP-WHO.
Đừng để dược liệu chỉ dừng ở bán nguyên liệu thô
Nếu vùng nguyên liệu là "gốc", chế biến mới là khâu quyết định khả năng gia tăng giá trị của cây dược liệu. Thực tế, phần lớn HTX dược liệu ở Nghệ An có quy mô nhỏ, nguồn lực tài chính hạn chế. Nhiều đơn vị muốn đầu tư máy móc, nhà xưởng, mở rộng vùng trồng nhưng khó tiếp cận vốn do thiếu tài sản thế chấp. Trong khi đó, sản xuất dược liệu đòi hỏi thời gian đầu tư dài, chi phí lớn và quy trình kiểm soát chất lượng chặt chẽ.
Theo ông Lá Văn Duy, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc HTX Nông Dược Tĩnh Sáng Đường, phát triển dược liệu theo hướng hữu cơ đòi hỏi nguồn vốn lớn và nhiều nhân công. Trong khi đó, việc phòng trừ sâu bệnh cũng không thể dựa vào các loại hóa chất thông thường.

HTX Dược liệu Pù Mát liên kết với 110 hộ dân xây dựng vùng trồng cà gai leo, dây thìa canh. Ảnh: Song Hoàng.
Ông Duy cho rằng, các HTX cần được kết nối với các nhà khoa học để bảo tồn nguồn gen, chọn tạo giống và chuyển giao kỹ thuật sản xuất. Bên cạnh đó, cần có nguồn vốn phù hợp để các HTX có thể đầu tư bài bản, theo hướng lâu dài. "Cần phát triển thêm các cơ sở chế biến sâu đạt chuẩn để nâng giá trị dược liệu, thay vì chỉ dừng ở việc bán nguyên liệu thô", ông Duy đề xuất.
Đây là vấn đề không riêng của một HTX. Khi thiếu chế biến sâu, giá trị lớn nhất của cây dược liệu khó ở lại với người trồng và HTX.
Từ thực tế hoạt động của HTX Dược liệu Pù Mát, ông Phan Xuân Diện cho rằng, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào chuỗi liên kết. Doanh nghiệp có thể hỗ trợ giống, kỹ thuật, tổ chức sản xuất và bao tiêu nguyên liệu, HTX làm đầu mối liên kết với người dân. Cách làm này giúp vùng nguyên liệu được hình thành theo nhu cầu thực tế của thị trường, thay vì sản xuất trước rồi mới tìm nơi tiêu thụ.

Sản phẩm dược liệu được sơ chế, chế biến để nâng giá trị thay vì chỉ bán nguyên liệu thô. Ảnh: Song Hoàng.
Theo ông Nguyễn Bá Châu, Chủ tịch Liên minh HTX Nghệ An, trước mắt cần tập trung tháo gỡ 3 vấn đề, về quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với chính sách đất đai, cùng với đó hỗ trợ HTX đầu tư phương tiện, máy móc, nhất là cho chế biến sâu, đồng thời đẩy mạnh xúc tiến thương mại và kết nối thị trường.
"Trong chuỗi liên kết, doanh nghiệp cần giữ vai trò đầu tàu về thị trường, chế biến và tiêu thụ, HTX là đầu mối tổ chức sản xuất, quản lý vùng nguyên liệu, người dân trực tiếp sản xuất", ông Châu nói và cho biết, các mối liên kết cần được cụ thể hóa bằng hợp đồng bao tiêu, chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ giống, vật tư và đầu tư cho khâu sơ chế, chế biến.
Để tăng cường liên kết giữa các HTX, Liên minh HTX Nghệ An đã vận động thành lập Câu lạc bộ "Các HTX Dược liệu Nghệ An liên kết, hợp tác cùng phát triển", bước đầu quy tụ 16 HTX nòng cốt. Câu lạc bộ được kỳ vọng trở thành nơi các HTX chia sẻ kinh nghiệm, kỹ thuật, máy móc và nguồn lực, đồng thời hỗ trợ hoàn thiện pháp lý, quản trị rủi ro và xây dựng quy trình liên kết chuỗi.
Liên minh HTX Nghệ An cũng dự kiến lựa chọn, xây dựng 2-3 mô hình HTX dược liệu điểm theo chuỗi giá trị. Các mô hình sẽ được hỗ trợ từ giống, vùng nguyên liệu, áp dụng nguyên tắc GACP-WHO trong vùng trồng đến sơ chế, chế biến, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường. Những mô hình hiệu quả sẽ được đánh giá, tổng kết để nhân rộng.
Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An Nguyễn Danh Hùng, tỉnh có nhiều lợi thế để phát triển dược liệu, từ diện tích tự nhiên rộng lớn đến hệ sinh thái đa dạng, tài nguyên rừng phong phú và nguồn gen cây thuốc quý.
Tỉnh hiện quản lý, bảo vệ trên 975.000 héc-ta rừng, tỷ lệ che phủ đạt 59,16%. Miền Tây Nghệ An có Khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận, Vườn quốc gia Pù Mát cùng các khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, Pù Hoạt. Đây là những vùng có giá trị đa dạng sinh học cao, tạo điều kiện để bảo tồn và phát triển nhiều loại cây dược liệu.
Tuy nhiên, ông Hùng thừa nhận, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Quy mô vùng nguyên liệu còn hạn chế, chế biến sâu và liên kết chuỗi giá trị chưa phát triển tương xứng. Việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và xây dựng thương hiệu dược liệu cũng cần được đẩy mạnh hơn.
Những năm qua, một số doanh nghiệp và HTX tại Nghệ An đã đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, sơ chế, chế biến các sản phẩm như tinh bột nghệ, trà hoa vàng, cà gai leo, quế, chè vằng, tinh dầu, đông trùng hạ thảo... Nhưng để những sản phẩm này đi xa hơn, cây dược liệu không thể chỉ được nhìn như một loại cây trồng. Từ vùng nguyên liệu, giống, kỹ thuật đến chế biến và thị trường cần được nối thành một chuỗi.
Khi doanh nghiệp thực sự đóng vai trò dẫn dắt, HTX tổ chức sản xuất và người dân yên tâm gắn bó với vùng trồng, "kho vàng" dược liệu của Nghệ An mới có cơ hội chuyển thành giá trị kinh tế bền vững.































