Ngành cao su tìm lời giải để khai thác tín chỉ carbon
Chiều 11/8, Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA), Tổ chức Forest Trends và Mạng lưới Cao su thiên nhiên bền vững tổ chức hội thảo trực tuyến “Cơ hội thị trường tín chỉ carbon đối với ngành cao su Việt Nam”.

Ngành cao su có lợi thế nằm ở chu kỳ kinh doanh dài, khoảng 25-35 năm, sinh khối lớn và khả năng hấp thụ, lưu trữ carbon. Ảnh minh họa: TTXVN
Ngành cao su Việt Nam có nhiều lợi thế tham gia thị trường tín chỉ carbon nhờ chu kỳ sinh trưởng dài, sinh khối lớn và khả năng hấp thụ, lưu trữ carbon. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành giá trị thương mại, doanh nghiệp cần tháo gỡ nhiều vướng mắc về pháp lý, phương pháp tính và hiệu quả kinh tế.
Theo bà Nghiêm Phương Thúy, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hiện có hai hướng chính để thương mại hóa tín chỉ carbon là giao dịch quốc tế và giao dịch trong nước. Trên thị trường quốc tế, việc chuyển giao tín chỉ có thể thực hiện thông qua cơ chế hợp tác giữa các quốc gia theo Điều 6 Thỏa thuận Paris, gồm Điều 6.2 và Điều 6.4; doanh nghiệp cũng có thể tham gia các tiêu chuẩn carbon tự nguyện.
Trong nước, Việt Nam đã quy định cơ chế trao đổi, mua bán và bù trừ hạn ngạch phát thải. Sàn giao dịch carbon trong nước được khởi động từ cuối tháng 6/2026, mở thêm cơ hội cho doanh nghiệp tham gia thị trường carbon.
Đối với ngành cao su, lợi thế nằm ở chu kỳ kinh doanh dài, khoảng 25-35 năm, sinh khối lớn và khả năng hấp thụ, lưu trữ carbon. Ông Hoàng Bảo Luân, Phó Giám đốc Đội Khoa học - Công nghệ, Tổng công ty Cao su Đồng Nai cho biết, doanh nghiệp hiện quản lý khoảng 31.000 ha cao su, trong đó hơn 9.000 ha đã được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Doanh nghiệp có hệ thống dữ liệu về hồ sơ lô, tuổi cây, giống, phân bón, nhiên liệu được ghi chép trong nhiều năm, tạo nền tảng thuận lợi cho việc đánh giá phát thải và hấp thụ carbon.
Bên cạnh đó, sức ép từ các yêu cầu về phát triển bền vững, EUDR và dấu chân carbon đối với sản phẩm xuất khẩu cũng đang thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm hơn đến các giải pháp giảm phát thải.
Tuy nhiên, theo ông Hoàng Bảo Luân, quá trình nghiên cứu triển khai thực tế cho thấy doanh nghiệp còn nhiều vấn đề cần làm rõ. Trước hết là tư cách pháp lý và phân loại đất. Phần lớn diện tích cao su của doanh nghiệp được Nhà nước cho thuê và quy hoạch là đất trồng cây lâu năm. Do đó, cần xác định cao su trên loại đất này có thuộc đối tượng áp dụng phương pháp quản lý rừng cải tiến hay không và doanh nghiệp thuê đất có đủ tư cách đăng ký dự án carbon hay không.
Rủi ro từ quy hoạch sử dụng đất cũng là vấn đề đáng lưu ý, bởi một số diện tích cao su có thể được chuyển đổi mục đích sử dụng trong khi dự án carbon thường yêu cầu thời gian duy trì dài. Doanh nghiệp cần được hướng dẫn rõ trách nhiệm đối với lượng tín chỉ đã phát hành, chuyển giao nếu diện tích dự án bị thu hồi hoặc thay đổi mục đích sử dụng.
Hiệu quả kinh tế cũng là bài toán cần tính toán. Doanh nghiệp đã liên tục cải tiến quy trình trồng, chăm sóc và quản lý vườn cây, vì vậy lượng carbon tăng thêm so với phương thức sản xuất hiện tại cần được lượng hóa và so sánh với chi phí tư vấn, đo đạc, giám sát, thẩm định, xác minh. Khả năng tiêu thụ và giá tín chỉ cũng quyết định tính khả thi của dự án.
Tổng công ty Cao su Đồng Nai kiến nghị, cơ quan quản lý cần nghiên cứu, hướng dẫn phù hợp đối với cây công nghiệp lâu năm như cao su, làm rõ tư cách pháp lý của doanh nghiệp sử dụng đất trồng cây lâu năm và trách nhiệm khi diện tích dự án bị Nhà nước thu hồi. Doanh nghiệp cũng đề xuất nghiên cứu xây dựng dự án carbon quy mô cấp Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam thay vì triển khai nhiều dự án nhỏ lẻ nhằm chia sẻ chi phí và nâng quy mô tín chỉ.
Theo ông Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận quản lý rừng bền vững, một dự án carbon phải trải qua các bước xây dựng văn kiện, thẩm định, đăng ký, triển khai biện pháp kỹ thuật, đo đạc và xây dựng báo cáo kết quả. Báo cáo tiếp tục được thẩm định, xác minh trước khi tín chỉ được cấp. Dự án phải chứng minh được kết quả giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ theo phương pháp luận và được xác minh.
Ông Vũ Tấn Phương lưu ý, với những diện tích cao su đã có sinh khối lớn và được quản lý tương đối tốt, dư địa tạo thêm tín chỉ từ sinh khối có thể không lớn. Vì vậy, doanh nghiệp cần xác định rõ mục tiêu là kinh doanh tín chỉ carbon hay hướng tới sản xuất xanh, phát thải thấp để nâng cao thương hiệu, bởi hai mục tiêu này có cách tiếp cận khác nhau.
Đặc biệt, cần phân biệt tín chỉ carbon với dấu chân carbon. Dấu chân carbon phải được tính trên toàn bộ chuỗi từ trồng, chăm sóc, khai thác, vận chuyển đến chế biến sản phẩm, phản ánh lượng phát thải trên một đơn vị sản phẩm. Đây là yếu tố quan trọng đối với khả năng cạnh tranh của cao su Việt Nam trên thị trường quốc tế.



























