Ngạn ngữ và tục ngữ

Độc giả Nguyễn Thái Bình (Ninh Bình) hỏi: 'Tôi thường xuyên theo dõi chuyên mục 'Cà kê chuyện chữ nghĩa' trên Báo Thanh Hóa. Gần đây, tôi đọc được bài giải đáp thắc mắc của độc giả: 'Khôn dồn ra mặt' là câu 'tục ngữ' hay 'thành ngữ'. Bản thân tôi cũng thường nghe người ta gọi 'ngạn ngữ', 'tục ngữ', hay 'cổ ngữ', 'thành ngữ'... nhưng chưa thực sự am hiểu về các thể loại này và cảm thấy thiếu tự tin khi dẫn giải một câu nói nào đó của dân gian. Vậy, xin chuyên mục Cà kê chuyện chữ nghĩa cho tôi và độc giả được biết, khi nào thì gọi là 'ngạn ngữ', khi nào thì gọi là 'tục ngữ'?

Xin trân trọng cảm ơn”.

Trả lời: Ngạn ngữ, tục ngữ và thành ngữ đều là những từ Việt gốc Hán, hiện vẫn được sử dụng cả trong tiếng Hán và tiếng Việt.

Chữ “ngạn” 諺 trong “ngạn ngữ” 諺語 có nghĩa là lời tục truyền, lời nói lưu hành trong dân gian.

Hán ngữ đại từ điển dẫn “Mạnh Tử - Lương Huệ Vương”: “Hạ ngạn viết: Ngô vương bất du, ngô hà dĩ hưu (夏 諺曰: 吾王不遊,吾何以休), nghĩa là: “Nước Hạ có câu ngạn: “Vua ta không đi chơi, ta lấy gì mà được nghỉ?”. Chú giải của Tiêu Tuần (焦循): “Quảng Nhã - Thích Cổ nói: “Ngạn là lời truyền lại”. Như vậy “ngạn Hạ” là lời do người Hạ truyền lại. Quốc ngữ chép: “Ngạn có câu ấy". Lại có lời chú của Vi Chiêu (韋昭) rằng: “Ngạn là lời ca dao hay trong dân gian”. Do là điều dân gian truyền tụng nên gọi là ngạn ngữ của dân; mà lời lẽ lại giống thơ ca, nên thuộc loại “dao” (ca dao)”.

Đời Nguyên, Đới Biểu Nguyên (戴表元) trong lời tựa sách “Kỳ đồng liệt nữ bảo giám” có viết: “Cổ ngạn hữu ngôn: "Giáo phụ sơ lai; giáo nhi anh hài”, nghĩa là “Cổ ngạn có nói: Dạy vợ từ buổi mới về, dạy con từ thuở còn thơ”.

Trên đây là nghĩa riêng của chữ “ngạn”.

Với “ngạn ngữ”, Hán ngữ đại từ điển giảng: “Ngạn ngữ: trường kì lưu truyền hạ lai đích ngụ ý phong phú, văn từ cố định giản luyện đích cổ huấn, tục ngữ (諺語: 長期流傳下來的寓意豐富, 文詞固定簡煉的古訓, 俗語) nghĩa là: “Ngạn ngữ là những lời răn dạy cổ, hoặc tục ngữ được lưu truyền lại từ xa xưa, có ý nghĩa phong phú, câu chữ cố định, ngắn gọn và súc tích”. Từ điển dẫn: “Đời Tống, Thái Thao trong “Thiết Vi Sơn tùng đàm” (quyển 3) nói: “Cố nhất thời ngạn ngữ hữu: “Đài quan bất như linh quan”. (Bởi vậy đương thời có ngạn ngữ: Quan đài không bằng quan phường hát”.

Như vậy, trong Hán ngữ, “ngạn” và “ngạn ngữ” có quan hệ nghĩa rất gần nhau, đều chỉ lời truyền tụng trong dân gian.

Trong tiếng Việt, “ngạn” được một số từ điển như Việt Nam tự điển (Lê Văn Đức), Việt Nam tự điển (Hội Khai trí tiến đức) thu thập riêng và giảng là “Lời tục, lời nói hay của người xưa truyền lại”, “Phương - ngôn tục - ngữ”. Tuy nhiên, trong tiếng Việt hiện đại, thực tế rất ít khi “ngạn” được dùng độc lập như “ngạn ngữ”. Bởi thế, Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê - Vietlex) chỉ ghi nhận “ngạn ngữ” và giảng là: “câu nói, lời nói có ý hay từ xưa truyền lại [bao gồm cả tục ngữ]”.

Trong sách “Thanh Hóa kỉ thắng” (Vương Duy Trinh) có đoạn viết: “Hỏa Châu Phong tại thôn Nghĩa Sơn huyện Hoằng Hóa. Trên đỉnh núi vốn có chùa Tiên Đồng. Núi này nhỏ mà toàn đá, nổi vọt lên giống như hình người đứng bên sông Tất Mã. Người ta đặt tên núi là Nhi Phong (tức tên nôm là núi Nít - TG). Có câu ngạn rằng (nguyên văn: “Nhạn vân: Dị tai Đông Sơn cửu thập cửu phong. Nhất hài vị quy hề giang ngạn đông”, nghĩa là: “Có câu ngạn: Lạ thay chín chín ngọn Đông Dơn, Còn hòn núi Nít bờ đông chưa về”. Ở đây, trong cổ văn “ngạn” được dùng riêng với nghĩa như “ngạn ngữ”.

Như vậy, chúng ta thấy rằng, “ngạn”, hay “ngạn ngữ” mang nghĩa chung chỉ lời nói của người xưa truyền lại, trong đó bao gồm cả tục ngữ. Tuy nhiên, trong thực tế, thì trong tiếng Việt, “ngạn ngữ” được dùng để chỉ những câu nói của người xưa tồn tại dưới hình thức ca dao, hoặc nhận xét, đúc kết về phong tục, tập quán, đặc điểm về thủy thổ, hình thế núi sông, kiểu như: “Lạ thay chín chín ngọn Đông Dơn, Còn hòn núi Nít bờ đông chưa về”, “Thanh vô tiền, Nghệ vô hậu”, hay “Đình huyện Tống, trống huyện Nga”... (dù những câu này gọi là tục ngữ cũng không sai).

Còn tục ngữ, cũng chính là “ngạn ngữ” (hiểu theo nghĩa chung là câu nói của dân gian xưa truyền lại), nhưng thường được dùng để chỉ những câu chuyên về đúc kết kinh nghiệm lao động sản xuất (Trâu ra, mạ vào; Chó treo, mèo đậy...), hoặc lời răn dạy về đạo đức, ứng xử, nhân tình thế thái (Con hơn cha là nhà có phúc; Quan nhất thời, dân vạn đại...).

Kết luận: “ngạn ngữ” và “tục ngữ” vốn không phải hai phạm trù hoàn toàn tách biệt, mà có quan hệ bao hàm và giao thoa về nghĩa. “Ngạn ngữ” thiên về cách gọi mang tính khái quát, còn “tục ngữ” nghiêng về lớp lời nói dân gian cụ thể, gắn với kinh nghiệm và đời sống thực tiễn.

Vì vậy, khi sử dụng, điều quan trọng không phải là phân biệt một cách máy móc, mà là hiểu đúng nội hàm và sắc thái của từng cách gọi trong từng ngữ cảnh. Nắm được điều đó, ta sẽ tránh được sự lẫn lộn và có thể vận dụng chính xác, tự tin hơn khi dẫn giải những lời ăn tiếng nói của cha ông.

Lý Thủy (CTV)

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/ngan-ngu-nbsp-va-tuc-ngu-285726.htm