Nét duyên làng nón
Từ bao đời nay, chiếc nón lá không chỉ là vật dụng che nắng, che mưa mà còn gắn với hình ảnh người phụ nữ Việt Nam chịu thương, chịu khó. Tại làng nghề Gai Bún, thôn Tráng Quán, xã Tiên Lục (thành phố Bắc Ninh), hình ảnh những người phụ nữ ngồi bên hiên nhà hay dưới bóng cây, tỉ mỉ với từng mũi kim, sợi chỉ đã trở nên quen thuộc. Làm nón không chỉ để mưu sinh mà còn là cách lưu giữ ký ức, nếp sống làng quê của người dân nơi đây.
Tỉ mỉ từng đường kim
Buổi sáng, trước hiên nhà bà Nguyễn Thị Đoan (sinh năm 1954), một nhóm phụ nữ quây quần bên nhau, người xếp lá, người đặt vành, người cầm kim khâu. Đôi tay đã quen việc hàng chục năm thoăn thoắt luồn từng mũi kim qua những lớp lá mỏng. Đó là nếp sinh hoạt bình dị của làng nghề.

Phụ nữ làng nghề Gai Bún khâu nón lá.
Theo anh Nguyễn Ngọc Kiên, Trưởng thôn Tráng Quán, trước đây, từ người già đến trẻ nhỏ, đàn ông hay phụ nữ trong làng đều biết làm nón. Hiện toàn thôn còn gần 200 hộ theo nghề, chủ yếu là phụ nữ cao tuổi. Nghề làm nón không bó buộc thời gian, bà con có thể tranh thủ lúc nông nhàn, buổi tối hoặc khi thời tiết không thuận lợi cho việc đồng áng để ngồi khâu nón. Thông thường, 5-7 người cùng tập trung tại nhà một hộ, vừa làm, mọi người vừa trò chuyện, sẻ chia chuyện gia đình, làng xóm. Công việc tưởng như đơn điệu vì thế trở thành khoảng thời gian gắn kết cộng đồng. Mỗi ngày, một người có thể hoàn thiện 2-3 chiếc nón. Công việc không nặng nhọc nhưng đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỉ mỉ.
Nón Gai Bún có nhiều loại, giá bán từ 30.000 - 100.000 đồng/chiếc. Sau khi trừ chi phí nguyên vật liệu, người thợ có thể thu từ 20.000 - 60.000 đồng/chiếc, bình quân mỗi tháng có thêm khoảng 3 - 5 triệu đồng. Khoản thu nhập tuy không lớn nhưng là nguồn thu thiết thực đối với nhiều phụ nữ lớn tuổi ở nông thôn.
Theo những người cao tuổi trong thôn, nghề nón đã bén rễ ở làng Gai Bún khoảng năm 1910. Khi ấy, cụ Nguyễn Thị Đông, quê gốc làng Chuông, một làng nghề nón nổi tiếng ở Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) lấy chồng về đây và mang theo nghề làm nón để mưu sinh. Vốn khéo tay, lại tận tình truyền dạy, cụ Đông giúp nghề dần lan rộng trong làng và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Giữ một nếp quê
Nón lá Gai Bún không nổi tiếng như nón bài thơ xứ Huế nhưng người dân nơi đây tự hào bởi sản phẩm có độ dày và chắc bền. Lá nón trắng, đường kim nhỏ, phẳng đều; vành tròn, mềm mại, một chiếc nón đẹp phải có chỏm nhỏ, gọn. Để làm được điều đó, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn, gần như tất cả đều thực hiện bằng đôi tay.
Bà Vũ Thị Định (sinh năm 1964), một trong những người gắn bó lâu năm với nghề, vừa nhập nguyên liệu cung cấp cho bà con, vừa trực tiếp khâu nón và thu mua sản phẩm đưa đi tiêu thụ. Theo bà Định, lá nón được đưa về từ Ninh Bình, Thanh Hóa; chỉ, cước mua từ Hà Nội. Để lá đạt độ trắng và phẳng, người thợ phải tách lá, hun bằng diêm sinh rồi là sao cho phẳng phiu.
Chiều xuống, bên hiên những ngôi nhà trong thôn, các nhóm phụ nữ vẫn chăm chú bên chiếc nón đang trong công đoạn hoàn thiện. Có thể giá trị mỗi chiếc nón chưa cao nhưng phía sau đó là cả một nghề được gìn giữ qua hơn một thế kỷ. Từ những đường kim, mũi chỉ ấy, người dân nơi đây không chỉ làm ra một vật dụng quen thuộc mà còn gìn giữ một nét duyên bình dị, một phần ký ức của làng quê.
Vanh nón cũng đòi hỏi sự khéo léo. Trước đây, vanh thường làm bằng cật tre hoặc nứa nhưng độ bền không cao, vì vậy những năm gần đây, người dân chuyển sang cây phấn, bởi loại cây này dẻo, dai, dễ uốn. Khi nguyên liệu sẵn sàng, người thợ bắt đầu quay nón, lớp lá trong được đặt trước, tiếp đến là lớp mo, lớp lá ngoài rồi mới đến trang trí hoa. Đặc biệt, khâu nón quyết định nhiều đến hình thức và độ bền, người thợ đưa kim nhẹ nhàng, đều tay từ vòng trong ra vòng ngoài, đường kim phải thẳng, mũi chỉ nhỏ và phẳng. Chỉ một chút sơ suất, chiếc nón có thể mất dáng hoặc không đạt độ chắc cần thiết.
Điều thú vị ở làng nón Gai Bún là không chỉ phụ nữ biết khâu nón, những người đàn ông khéo tay như các ông: Dương Ngọc Cảnh, Vũ Văn Sáu, Nguyễn Khắc Long, Dương Thái Quang hay Trưởng thôn Nguyễn Ngọc Kiên... cũng thành thạo từng đường kim, mũi chỉ từ hồi còn nhỏ. Nón làm xong được người dân trong thôn thu mua, đưa đi tiêu thụ, trong đó nhiều chuyến hàng được gửi vào miền Nam.
Năm 2010, nghề làm nón ở Gai Bún được UBND tỉnh Bắc Giang (nay là UBND thành phố Bắc Ninh) công nhận là làng nghề. Theo Trưởng thôn Nguyễn Ngọc Kiên, trong tháng này, thôn dự kiến thành lập Chi hội Nông dân nghề nghiệp nón lá với khoảng 70 thành viên. Đây sẽ là nơi liên kết các hộ làm nghề, cùng tìm đầu ra, quảng bá và từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm. Thôn cũng có kế hoạch xây dựng gian trưng bày tại nhà văn hóa để giới thiệu nghề và sản phẩm làng nghề, hướng tới kết hợp với du lịch trải nghiệm, nâng cao giá trị sản phẩm.
Chiều xuống, bên hiên những ngôi nhà trong thôn, các nhóm phụ nữ vẫn chăm chú bên chiếc nón đang trong công đoạn hoàn thiện. Có thể giá trị mỗi chiếc nón chưa cao nhưng phía sau đó là cả một nghề được gìn giữ qua hơn một thế kỷ. Từ những đường kim, mũi chỉ ấy, người dân nơi đây không chỉ làm ra một vật dụng quen thuộc mà còn gìn giữ một nét duyên bình dị, một phần ký ức của làng quê.


