Nâng tầm chuỗi cung ứng sầu riêng Việt Nam - Trung Quốc

Với lợi thế về vùng nguyên liệu và mùa vụ, sầu riêng Việt Nam đang đứng trước cơ hội tham gia sâu hơn vào thị trường Trung Quốc; điều này đòi hỏi chuỗi cung ứng phải được tổ chức đồng bộ, nâng chất lượng, giảm chi phí và chuyển dần từ mua bán theo mùa vụ sang hợp tác dài hạn.

Đắk Lắk muốn trở thành trung tâm chuỗi cung ứng sầu riêng

Ngày 19/8, UBND tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk, Công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Thương mại C&M cùng các đơn vị liên quan tổ chức Chương trình “Gặp gỡ, giao thương, kết nối hợp tác chuỗi cung ứng sầu riêng Việt Nam - Trung Quốc, tỉnh Đắk Lắk năm 2026”.

Trung Quốc hiện là thị trường tiêu thụ chủ lực, chiếm khoảng 70% tổng sản lượng sầu riêng của Đắk Lắk.

63 doanh nghiệp, đơn vị Trung Quốc tham gia chương trình kết nối hợp tác. Ảnh: Trúc Oanh

63 doanh nghiệp, đơn vị Trung Quốc tham gia chương trình kết nối hợp tác. Ảnh: Trúc Oanh

Theo Phó Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk Trần Văn Thắng, địa phương có nhiều lợi thế phát triển sầu riêng nhờ điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp và kinh nghiệm canh tác của nông dân.

Đắk Lắk hiện có khoảng 45.000ha sầu riêng; 280 vùng trồng với khoảng 7.500ha và 41 cơ sở đóng gói quả tươi đã được phê duyệt mã số xuất khẩu. Sản lượng năm 2026 dự kiến đạt khoảng 500.000 tấn, tập trung thu hoạch từ tháng 8 đến tháng 11. Sự khác biệt về thời vụ so với một số quốc gia sản xuất tạo điều kiện để Việt Nam bổ sung nguồn cung cho thị trường Trung Quốc.

Kết hợp với các vùng trồng tại đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và các địa phương khác ở Tây Nguyên, sự khác biệt về mùa vụ có thể giúp Việt Nam từng bước hình thành chuỗi cung ứng sầu riêng kéo dài trong năm.

Đắk Lắk cũng có lợi thế kết nối với Gia Lai, Lâm Đồng, Khánh Hòa và các khu vực lân cận. Nếu được đầu tư đồng bộ, địa phương có thể trở thành trung tâm vùng về nguyên liệu, chế biến, kho lạnh và logistics, phục vụ ngành sầu riêng của Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

Theo ông Thắng, nông dân ngày càng chủ động thực hiện các yêu cầu về mã số vùng trồng, kiểm soát dư lượng thuốc, truy xuất nguồn gốc và sản xuất an toàn. Doanh nghiệp cũng từng bước nâng năng lực thu mua, đóng gói, cấp đông, chế biến, vận tải và xuất khẩu.

Định hướng thời gian tới là không mở rộng diện tích, tăng sản lượng bằng mọi giá mà tập trung nâng chất lượng, an toàn thực phẩm và giá trị sản phẩm; chuyển từ “sản xuất rồi tìm người mua” sang sản xuất theo nhu cầu thị trường, tăng liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và đối tác.

Cùng với đó, ngành hàng cần đẩy mạnh chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch, kho lạnh, logistics, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu; ứng dụng công nghệ trong phân loại, đánh giá chất lượng và tự động hóa sản xuất.

Với thị trường Trung Quốc, Đắk Lắk hướng tới chuyển từ mua bán theo mùa vụ sang hợp tác chuỗi giá trị dài hạn. Doanh nghiệp Trung Quốc có thể tham gia đầu tư chế biến, kho lạnh, logistics, công nghệ và phân phối, gắn với vùng nguyên liệu và doanh nghiệp tại địa phương.

Đẩy mạnh kết nối chuỗi, mở rộng đầu ra

Theo bà Tăng Hiểu Ngọc, đại diện Tập đoàn Chứng nhận và Giám định Trung Quốc (CCIC), ngành sầu riêng Việt Nam - Trung Quốc đang đứng trước cơ hội chuyển từ giao dịch thương mại đơn thuần sang hợp tác, nâng cấp toàn bộ chuỗi giá trị.

Theo đó, Việt Nam cần bảo đảm nguồn cung chất lượng thông qua chuẩn hóa từ giống, vùng trồng, canh tác, kiểm soát sâu bệnh đến thu hoạch, sơ chế và truy xuất nguồn gốc. Sau thu hoạch, cần đầu tư đồng bộ hệ thống sơ lạnh, kho lạnh tại vùng nguyên liệu và chuỗi lạnh xuyên suốt quá trình vận chuyển nhằm duy trì chất lượng, giảm tổn thất.

Một hướng đi quan trọng khác là mở rộng hệ thống phân phối, nâng nhận diện sầu riêng Việt Nam tại Trung Quốc, kết hợp các kênh trực tiếp và trực tuyến. Về dài hạn, hai bên có thể mở rộng hợp tác sang chế biến sâu và phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng.

CCIC cũng đề xuất xây dựng nền tảng số kết nối vùng trồng, kho bãi và thị trường, chia sẻ dữ liệu về sản xuất, nhu cầu tiêu dùng, giá cả, đơn hàng, logistics và tồn kho. Trước mắt, có thể triển khai các mô hình canh tác chuẩn hóa, hoàn thiện cơ sở dữ liệu vùng trồng tại Việt Nam và hệ thống kho tại các cửa khẩu Trung Quốc.

Ông Lưu Húc, Giám đốc kinh doanh thị trường nước ngoài của Liên hiệp Hợp tác xã Cung ứng và Tiêu thụ Quảng Tây (China Coop) cho biết, nhu cầu sầu riêng chất lượng cao tại Trung Quốc tiếp tục tăng. Với mạng lưới gần 30.000 hợp tác xã cung tiêu, hơn 3.000 chợ đầu mối và hàng trăm nghìn điểm bán lẻ, đơn vị có thể hỗ trợ sầu riêng Việt Nam tiếp cận sâu hơn thị trường Trung Quốc. Tuy nhiên, Việt Nam cần chú trọng đầu tư sơ lạnh, kho lạnh tại vùng trồng và chuỗi lạnh xuyên biên giới.

Cùng với sản xuất và phân phối, tài chính cũng là mắt xích quan trọng; bà Dương Trúc Phương, đại diện Vietcombank Chi nhánh Đắk Lắk cho biết, mạng lưới thu mua hiện còn phân tán, giao dịch tiền mặt và thanh toán biên mậu qua đồng tiền trung gian làm tăng chi phí, rủi ro.

Vietcombank đang phát triển hệ sinh thái tài chính gồm VCB OneQR, thanh toán trực tiếp VND-CNY, VCB CashUp cùng các giải pháp tín dụng, bảo lãnh và tài trợ thương mại. Theo bà Phương, việc kết nối dòng tiền với dòng hàng hóa sẽ giúp nông dân nhận tiền nhanh hơn, doanh nghiệp chủ động nguồn vốn, đồng thời tăng tính minh bạch, an toàn trong xuất khẩu.

Việc đồng bộ các mắt xích từ sản xuất, bảo quản, logistics, phân phối đến tài chính được kỳ vọng giúp chuỗi sầu riêng Việt Nam giảm chi phí, kiểm soát rủi ro và nâng sức cạnh tranh tại thị trường Trung Quốc.

Trúc Oanh

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/nang-tam-chuoi-cung-ung-sau-rieng-viet-nam-trung-quoc-10428012.html