'Nâng chất' giáo viên: Động lực từ chính sách bền vững
Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên không chỉ là cải thiện thu nhập trước mắt, mà cần đặt trong tổng thể chính sách tiền lương, đãi ngộ và lộ trình phát triển nghề nghiệp dài hạn.

Sinh viên Trường Đại học Sư phạm TPHCM. Ảnh: ITN
Theo đó, chính sách đãi ngộ gắn với năng lực, hiệu quả công việc và chuyển đổi số chính là chìa khóa tạo động lực và phát triển đội ngũ nhà giáo.
Giúp giáo viên làm chủ công nghệ
Trực tiếp đứng lớp giảng dạy, cô Bùi Thị Cành - giáo viên Trường Tiểu học Tân Phú (phường Bình Phước, TPHCM) cho rằng, cần thay đổi cách tiếp cận trong phân bổ đãi ngộ. Việc trả lương không nên cào bằng, dựa chủ yếu vào bằng cấp, mà cần chuyển mạnh sang gắn với vị trí việc làm, hiệu quả công việc và năng lực thực tế của giáo viên, đặc biệt là năng lực chuyển đổi số.
Phát triển chuyên môn trong giai đoạn hiện nay cần gắn chặt với kỹ năng số, thể hiện qua năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong dạy học, thiết kế bài giảng tương tác, quản lý lớp học số, thay vì chỉ dừng lại ở các buổi tập huấn mang tính hình thức.
Thực tiễn tại nhiều trường học cho thấy, không ít giáo viên trình độ cao đẳng là nhân tố tích cực trong chuyển đổi số. Ý thức được hạn chế về bằng cấp, họ chủ động tự học, cập nhật công nghệ, thiết kế bài giảng sinh động, tăng cường tương tác với học sinh. “Nếu việc xếp lương, xếp hạng, thi đua chỉ dựa vào tấm bằng mà bỏ qua năng lực công nghệ và hiệu quả giảng dạy, vô hình trung sẽ khuyến khích sự trì trệ và làm giảm động lực phấn đấu của những giáo viên làm được việc”, cô Cành nêu quan điểm.
Về lộ trình phát triển chuyên môn gắn với giáo dục số, cô Cành nhấn mạnh, cách tiếp cận thực chất, tránh hình thức trong bối cảnh AI và chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ. Giáo viên nhận thức rằng, nếu không đổi mới sẽ tự bị đào thải. Tuy nhiên, hiện nhiều giáo viên vẫn phải tự đầu tư thiết bị, phần mềm, tự học và tự tập huấn trong quá trình chuyển đổi số.
Trong khi đó, không ít khóa bồi dưỡng còn nặng lý thuyết, thiếu tính ứng dụng; hạ tầng công nghệ ở nhiều trường học chưa đồng bộ, thiết bị lạc hậu, mạng Internet thiếu ổn định. Theo cô Cành, nếu những hạn chế này không sớm được tháo gỡ, việc ứng dụng công nghệ trong dạy học sẽ tiếp tục trở thành áp lực, thay vì là công cụ hỗ trợ hiệu quả cho việc nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển đội ngũ sư phạm.
Liên quan đến lộ trình phát triển nghề nghiệp gắn với giáo dục số, ông Đinh Văn Trịnh - Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Hiền (phường Tân Thới Hiệp, TPHCM) nhận thấy có sự chênh lệch giữa các địa phương khá rõ nét. Tại các đô thị lớn như: Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng… việc phát triển chuyên môn gắn với chuyển đổi số đang diễn ra nhanh và mạnh. Trong khi đó, ở một số địa phương khác, quá trình này có thể còn mang tính hình thức, chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn.
Chuyển đổi số trong giáo dục không còn là sự lựa chọn mà trở thành yêu cầu bắt buộc. Giáo viên, kể cả những người lớn tuổi, đều phải thích nghi và tự đổi mới. Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên đã làm chủ các nền tảng công nghệ, ứng dụng AI trong giảng dạy, cá nhân hóa lộ trình học tập cho học sinh và chủ động tham gia các cộng đồng học tập số, thay cho hình thức tập huấn truyền thống.
Theo ông Trịnh, chính sách đãi ngộ trong thời gian tới cần gắn chặt với hiệu quả công việc và năng lực số của giáo viên. Các tiêu chí về ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số hiệu quả cần được đưa vào đánh giá thi đua, khen thưởng một cách thực chất. Tuy nhiên, việc đánh giá phải bảo đảm tính linh hoạt và công bằng, tránh cào bằng, đồng thời có cơ chế hỗ trợ phù hợp cho giáo viên lớn tuổi để họ không bị bỏ lại phía sau trong tiến trình đổi mới.
“Nếu chính sách đãi ngộ được thiết kế gắn với năng lực, hiệu quả công việc và công bằng thực chất sẽ là động lực quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ sư phạm trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay”, ông Trịnh đặt vấn đề.

Giờ học của học sinh Trường Tiểu học Thuận Kiều (phường Đông Hưng Thuận, TPHCM). Ảnh: MA
Bài toán dài hạn
Ở góc độ chính sách vĩ mô, ông Trịnh đánh giá cao việc điều chỉnh mức lương cơ sở từ ngày 1/7/2024, qua đó cải thiện đáng kể bảng lương của giáo viên trong năm 2025. Đặc biệt, Luật Nhà giáo có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, với quy định xếp bậc lương nhà giáo ở mức cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp. Theo ông, đây là bước tiến quan trọng không chỉ về mặt thu nhập, mà còn tạo hiệu ứng tâm lý tích cực, củng cố niềm tin và động lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên.
Bên cạnh lương, ông Trịnh cho rằng, các chính sách phụ cấp ưu đãi nghề ngày càng được cụ thể hóa. Giáo viên mầm non, công tác tại vùng khó khăn, vùng 1, vùng 2, vùng 3 đều có quy định rõ ràng về mức phụ cấp và đã được thụ hưởng trên thực tế. Trước đó, từng có đề xuất bỏ phụ cấp thâm niên, gây tâm lý lo lắng trong đội ngũ nhà giáo. “Tuy nhiên, việc Nhà nước không thực hiện chủ trương này cho thấy sự trân trọng đối với những giáo viên đã gắn bó lâu năm với nghề, góp phần tạo sự yên tâm và ổn định trong đội ngũ”, ông Trịnh nhận định.
Dù vậy, Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Hiền nhận thấy, còn những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Một trong số đó là khoảng cách thu nhập giữa giáo viên công lập và tư thục, đặc biệt tại các đô thị lớn. Đây là bài toán mang tính toàn quốc, đòi hỏi các giải pháp linh hoạt hơn.
Ngoài cơ chế lương chung, ông Trịnh cho rằng, cần nghiên cứu các hình thức khen thưởng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương. Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố có thể xây dựng các quỹ khen thưởng riêng nhằm bảo đảm sự công bằng thực chất, bởi cùng một mức thu nhập nhưng chi phí sinh hoạt giữa các vùng miền rất khác nhau.
Theo ông Trịnh, việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên cần được đặt trong tổng thể các chính sách về tiền lương, chế độ đãi ngộ và lộ trình phát triển nghề nghiệp, phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Đây không chỉ là câu chuyện cải thiện thu nhập, mà là bài toán dài hạn nhằm xây dựng đội ngũ nhà giáo có động lực, vị thế xã hội và sẵn sàng thích ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục.
“Chính sách tiền lương và đãi ngộ đối với nhà giáo hiện nay về cơ bản đúng hướng, thể hiện sự quan tâm ngày càng rõ nét của Nhà nước. Nếu như trước đây, các chính sách chủ yếu tập trung vào việc tăng thu nhập, thì hiện nay tư duy đã có sự thay đổi căn bản, chuyển sang đãi ngộ tổng thể nhằm thu hút, giữ chân nhân tài và bảo đảm sự tương xứng giữa thu nhập với vai trò, vị thế của nghề giáo trong xã hội”, ông Trịnh bày tỏ.

Cô Bùi Thị Cành trong một giờ dạy. Ảnh: NVCC
Phát huy chính sách thu hút sinh viên sư phạm
Cũng theo ông Trịnh, định hướng này đã được triển khai từ nhiều năm trước, thể hiện rõ qua Nghị định số 116/2020/NĐ-CP về chính sách hỗ trợ học phí và sinh hoạt phí đối với sinh viên sư phạm (Nghị định 116).
Theo đó, ngay từ khi trúng tuyển vào các cơ sở đào tạo sư phạm chính quy, sinh viên đã được hưởng hỗ trợ tài chính hằng tháng. Đây được xem là hình thức đãi ngộ sớm, góp phần thu hút người học vào ngành sư phạm ngay từ đầu vào. Khi ra trường và gắn bó với nghề, vấn đề đãi ngộ không chỉ dừng lại ở mức thu nhập trước mắt, mà là tư duy dài hạn nhằm tạo động lực để giáo viên yên tâm cống hiến.
Khẳng định, sinh viên sư phạm được thụ hưởng nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực trong suốt quá trình học tập, GS.TS Huỳnh Văn Sơn - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TPHCM viện dẫn, Nghị định 116, trong đó Nhà nước đầu tư trực tiếp cho sinh viên sư phạm cả học phí và sinh hoạt phí.
Trường hợp sinh viên không lựa chọn hưởng chính sách theo Nghị định trên vẫn có thể sử dụng cơ chế cấp bù học phí. Đây được xem là nguồn động viên quan trọng, góp phần thu hút người học yên tâm lựa chọn và theo đuổi nghề giáo.
Bên cạnh đó, tùy theo điều kiện của từng cơ sở đào tạo, nhiều trường sư phạm đã tăng cường kết nối chặt chẽ với các đơn vị sử dụng lao động. Những sinh viên có kết quả học tập và rèn luyện tốt được giới thiệu việc làm ngay sau khi tốt nghiệp. Đặc biệt, tại các trường trọng điểm hoặc cơ sở được đầu tư bài bản, sinh viên ra trường có hồ sơ học tập tích cực, rõ ràng về năng lực chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp, qua đó giúp quá trình tuyển dụng diễn ra thuận lợi hơn.
Thực tế tại một số địa phương khu vực phía Nam cho thấy, sinh viên sư phạm nhìn chung hài lòng với quá trình học tập và cơ hội nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp. Khi ra trường, giáo viên trẻ được phân công công việc cụ thể, có mô tả rõ ràng về vị trí việc làm, đồng thời được hưởng các chế độ dành cho người mới vào nghề. Ở góc độ tổng thể, đây là những chính sách có lợi, tạo nền tảng ổn định cho đội ngũ giáo viên trẻ.
Riêng tại Trường Đại học Sư phạm TPHCM, GS.TS Huỳnh Văn Sơn cho biết, các chính sách dành cho sinh viên sư phạm đã tác động tích cực đến công tác tuyển sinh. Trong chu kỳ 5 năm gần đây, tỷ lệ thí sinh đăng ký vào các ngành sư phạm tăng đều qua từng năm. Đến năm 2025, tổng số hồ sơ đăng ký vào các ngành sư phạm của trường tăng gấp ba lần so với năm 2020.
Trước yêu cầu mới của giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số và AI, GS.TS Huỳnh Văn Sơn cho rằng, cốt lõi của đào tạo giáo viên là bảo đảm đầy đủ phẩm chất và năng lực nghề nghiệp.
Nhà trường đang định hướng mô hình phát triển năng lực giáo viên theo “trục ba tầng”: Năng lực sư phạm cơ bản; năng lực sư phạm hiện đại; và năng lực sư phạm số, sư phạm công nghệ. Khi đáp ứng được ba tầng năng lực này, giáo viên có thể làm chủ công nghệ, ứng dụng AI một cách hiệu quả, đồng thời giữ vững bản lĩnh nghề nghiệp, đạo đức và vai trò dẫn dắt trong môi trường giáo dục hiện đại.
Trong bối cảnh công nghệ, đặc biệt AI liên tục xuất hiện và phát triển nhanh chóng, PGS.TS Nguyễn Văn Sơn - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho rằng, yêu cầu đặt ra là giáo viên phải có đủ năng lực để sử dụng các công cụ công nghệ như một phương tiện hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động dạy học, thay vì bị chi phối hay lệ thuộc vào chúng.
Theo đó, công nghệ không nên được sử dụng như công cụ thay thế hoạt động tư duy của người học. Thay vào đó, AI cần được khai thác như một phương tiện giúp mở rộng và nâng cao năng lực tư duy. Chẳng hạn, thay vì giao cho học sinh nhiệm vụ giải một bài tập cụ thể, giáo viên có thể yêu cầu các em sử dụng AI để thiết kế các bài tập hoặc xây dựng tình huống học tập. “Cách tiếp cận này giúp học sinh chủ động suy nghĩ, đặt vấn đề và phát triển năng lực tư duy ở mức cao hơn”, PGS.TS Nguyễn Văn Sơn trao đổi.
Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho rằng, khi các chức năng tâm lý của học sinh được phát triển đầy đủ, đặc biệt khả năng tự chủ trong học tập, thì việc xuất hiện ngày càng nhiều công cụ công nghệ mới sẽ không còn là thách thức lớn đối với giáo dục. Tuy nhiên, đây là vấn đề mang tính căn bản, gắn chặt với nghiên cứu khoa học giáo dục, đòi hỏi sự đầu tư nghiêm túc cả về lý luận và thực tiễn.
Bên cạnh đó, vấn đề đạo đức AI được đặt ra không chỉ đối với học sinh mà cả với đội ngũ giáo viên. Theo PGS.TS Nguyễn Văn Sơn, để tránh nguy cơ giáo viên trở nên thụ động hoặc lệ thuộc vào AI, điều quan trọng nhất là xây dựng năng lực tự chủ. Tự chủ về chuyên môn, trong hoạt động nghề nghiệp và việc lựa chọn, sử dụng các công cụ công nghệ theo những mục tiêu sư phạm được xác định rõ ràng. Đây chính là nền tảng giúp giáo viên giữ vững bản lĩnh nghề nghiệp và chuẩn mực đạo đức trong môi trường giáo dục số.
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Sơn, mục tiêu cốt lõi của giáo dục không chỉ dừng lại ở việc học sinh đạt được những kết quả cụ thể như nắm vững kiến thức hay giải đúng một bài tập, mà quan trọng hơn là thúc đẩy sự phát triển các chức năng tâm lý của người học. Trong đó, giáo viên cần hướng tới việc sử dụng AI và các công cụ số để hỗ trợ phát triển tư duy, đặc biệt tư duy độc lập và phản biện cho học sinh.





























