Muốn chuyển đổi số thực chất, phải đổi tư duy trước tiên
Thay vì chỉ 'đưa giấy tờ lên máy tính', PGS.TS Trịnh Văn Tùng khẳng định chuyển đổi số là cuộc cách mạng về vận hành, nơi công nghệ chỉ chiếm 30%, còn lại phụ thuộc vào tư duy con người.
Chuyển đổi số là thay đổi cách làm, không phải công nghệ
Lý giải vì sao chuyển đổi số không thể hiểu đơn giản là ứng dụng công nghệ, PGS.TS Trịnh Văn Tùng - giảng viên cao cấp Viện Lãnh đạo học và Hành chính công, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nhấn mạnh: chuyển đổi số thực chất là một quá trình thay đổi toàn diện về văn hóa, cấu trúc và vận hành của tổ chức.
Theo ông, việc áp dụng công nghệ nếu thiếu đổi mới tư duy quản trị, hệ thống chính sách và quy trình làm việc sẽ không tự động mang lại hiệu quả hay sự thay đổi bền vững. Chuyển đổi số đòi hỏi các tổ chức phải tư duy lại mô hình hoạt động và giá trị cốt lõi, thay vì chỉ “đưa giấy tờ lên máy tính”.

Theo PGS.TS Trịnh Văn Tùng, chuyển đổi số cần đổi tư duy cách làm số
Theo PGS.TS Trịnh Văn Tùng, “thay đổi cách làm” trong chuyển đổi số là sự tái định vị toàn diện từ tư duy đến vận hành. Trọng tâm không còn là số hóa quy trình sẵn có, mà là thiết kế lại mô hình hoạt động theo hướng lấy người dùng làm trung tâm.
“Cụ thể, chuyển đổi số đòi hỏi chuyển từ tư duy “chính quyền ở đâu, người dân đến đó” sang “người dân ở đâu, dịch vụ công vươn tới đó”, đảm bảo minh bạch, phản hồi nhanh theo thời gian thực. Đồng thời, cần phá bỏ các “vách ngăn” giữa các bộ phận, thúc đẩy liên thông, tích hợp dữ liệu giữa các cấp, các ngành”, PGTS Trịnh Văn Tùng phân tích.
Ông cũng nhấn mạnh, ở góc độ quản trị, tổ chức phải nâng cao năng lực thích ứng, chủ động dự báo nhu cầu của người dân để cung cấp dịch vụ trước khi được yêu cầu, thay vì phản ứng bị động như mô hình truyền thống.
Đặt vấn đề về rào cản lớn nhất hiện nay trong chuyển đổi số, PGS.TS Trịnh Văn Tùng khẳng định: con người, chứ không phải công nghệ, mới là điểm nghẽn lớn nhất.
Theo phân tích của ông, công nghệ chỉ đóng góp khoảng 30%, trong khi 70% còn lại phụ thuộc vào sự thay đổi trong cách tổ chức và vận hành. Rào cản con người thể hiện ở ba khía cạnh chính: thiếu kỹ năng số; tâm lý ngại thay đổi, sợ rủi ro; và đặc biệt là năng lực dẫn dắt của đội ngũ lãnh đạo. Trong khi hạ tầng hay chi phí công nghệ có thể giải quyết bằng nguồn lực tài chính, thì thay đổi văn hóa và tư duy lại là bài toán dài hạn và phức tạp nhất.
Vai trò quyết định của người đứng đầu trong chuyển đổi số
Theo PGS.TS Trịnh Văn Tùng, người đứng đầu giữ vai trò người dẫn dắt và chất xúc tác cho toàn bộ tiến trình chuyển đổi số. Lãnh đạo phải nêu gương trong đổi mới tư duy, có tầm nhìn quản trị số rõ ràng và sẵn sàng chấp nhận thay đổi để truyền cảm hứng cho đội ngũ.
Quan trọng hơn, người đứng đầu cần xác lập tầm nhìn chiến lược, gắn chặt các sáng kiến số với mục tiêu cốt lõi của tổ chức, đồng thời xây dựng văn hóa đổi mới, khuyến khích sáng tạo và bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
“Nếu thiếu sự dẫn dắt quyết liệt này, các chương trình chuyển đổi số rất dễ rơi vào tình trạng manh mún, hình thức và kém hiệu quả”, PGS. TS Trịnh Văn Tùng giải thích.

Chuyển đổi số thì người đứng đầu đóng vai trò quan trọng, quyết định
Về mặt quản trị, chuyển đổi số giúp tối ưu hóa và tự động hóa quy trình, cắt giảm chi phí, thời gian và gánh nặng hành chính. Hệ thống số hóa tạo ra dữ liệu thời gian thực, giúp lãnh đạo ra quyết định chính xác, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao hơn.
Đồng thời, việc liên thông dữ liệu phá vỡ các rào cản giữa các đơn vị, thúc đẩy cộng tác và sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Quan trọng nhất, chuyển đổi số chuyển mô hình quản trị sang hướng lấy người dân làm trung tâm, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ công và mức độ tin cậy xã hội.
Vậy làm thế nào để tránh tình trạng chuyển đổi số “trên giấy”, PGS.TS Trịnh Văn Tùng cho rằng, các tổ chức cần chuyển từ tư duy “số hóa quy trình sẵn có” sang tái thiết toàn diện mô hình vận hành.
Theo đó, lãnh đạo phải thể hiện cam kết chính trị mạnh mẽ, xây dựng lộ trình rõ ràng “rõ người, rõ việc, rõ kết quả”, đồng thời thiết lập hệ thống KPI thực chất gắn với trách nhiệm giải trình. “Thành công của chuyển đổi số cần được đo lường bằng giá trị mang lại cho xã hội và sự hài lòng của người dân, thay vì số lượng phần mềm hay ứng dụng được triển khai”, ông Tùng phân tích.
Những lĩnh vực cần chuyển đổi số mạnh nhất
Theo đánh giá của PGS.TS Trịnh Văn Tùng, quản trị công và dịch vụ chính phủ là những lĩnh vực cần chuyển đổi số mạnh mẽ nhất hiện nay. Hạ tầng số và dữ liệu số, bao gồm định danh và thanh toán số, đóng vai trò nền tảng để triển khai chuyển đổi đồng bộ.
Bên cạnh đó, các lĩnh vực y tế, giáo dục cần bứt phá để nâng cao chất lượng dịch vụ. Xu hướng kết hợp chuyển đổi số với chuyển đổi xanh đang trở thành ưu tiên chiến lược nhằm hướng tới phát triển bền vững.
Đáng chú ý, Việt Nam cần tiếp cận chuyển đổi số theo phân vùng năng lực số, gồm đô thị, nông thôn đồng bằng, trung du duyên hải và miền núi, để bảo đảm tính bao trùm và không ai bị bỏ lại phía sau.
“Người dân là đối tượng hưởng lợi trực tiếp từ chuyển đổi số thông qua việc tiếp cận dịch vụ công nhanh hơn, thuận tiện hơn và minh bạch hơn. Các dịch vụ được cá nhân hóa theo nhu cầu, đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình của chính quyền”, ông Tùng đề xuất.

Để chuyển đổi số hiệu quả thì chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng
PGS Tùng phân tích thêm, việc chuyển đổi số cũng góp phần giảm chi phí xã hội, cắt giảm thủ tục, giảm chi phí giao dịch và hạn chế tham nhũng, lãng phí. Đặc biệt, các hệ thống số hóa như mua sắm công trực tuyến có thể giúp tiết kiệm đáng kể ngân sách và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công.
Dự báo đến năm 2031, PGS.TS Trịnh Văn Tùng cho rằng Việt Nam cần hoàn thành chuyển đổi số quốc gia toàn diện, xây dựng thành công Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và công dân số.
Đồng thời, hạ tầng số, dữ liệu số phải được liên thông toàn trình; bộ máy tổ chức tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Các vùng kinh tế trọng điểm cần trở thành trung tâm tài chính, logistics thế hệ mới, lấy khoa học - công nghệ, đặc biệt là AI và dữ liệu lớn, làm động lực phát triển.
Những cột mốc này sẽ là bệ phóng quan trọng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2045.


























