Mùa xuân Pác Bó - Người về thắp lửa lòng dân theo cách mạng
Mỗi độ xuân về nơi biên giới Pác Bó (xã Trường Hà), hoa mơ, hoa mận, hoa đào lại nở trắng bên dòng suối Lê-nin dưới chân núi Các Mác, như những chứng nhân lặng thầm của lịch sử kể lại:… 'Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt/ Trắng rừng biên giới nở hoa mơ/Bác về... Im lặng. Con chim hót/Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ'… (Tố Hữu - Theo chân Bác). Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, nơi đầu tiên chạm vào đất mẹ tại cột mốc 108 biên giới Pác Bó, trong muôn vàn gian nan. Nhưng từ tấm lòng thủy chung, son sắt, sự đùm bọc của đồng bào Pác Bó, Người đã thắp lên ngọn lửa cách mạng trong lòng dân, lan tỏa từ Cao Bằng ra cả nước, hiệu triệu toàn dân tộc đứng lên giành độc lập, tự do.
Dân bản đùm bọc, chở che - ông Ké hun đúc tinh thần yêu nước
Chị Vi Thị Hồng Thoa, hướng dẫn viên Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó (cháu ngoại của bà Hoàng Thị Khìn, dân tộc Nùng, Lão thành cách mạng tại bản Pác Bó, người năm xưa đưa cơm cho Bác Hồ) kể lại câu chuyện của gia đình mình như một thước phim quay chậm hơn 85 năm trước giữa núi rừng. Trước những năm 1940, bố của bà Hoàng Thị Khìn là cụ Hoàng Quốc Long (Lão thành cách mạng) thường hay đón mấy người bạn “tồng” (theo tiếng Nùng có nghĩa là anh em kết nghĩa) như: Hoàng Tô, Hoàng Sâm, Lê Quảng Ba... đến nhà bàn bạc việc đến khuya. Cụ thường nói với các con: Những người bạn tồng của pá (cha) là người tốt bụng đang tìm con đường đánh đuổi quan Tây, cường hào áp bức, cướp bóc dân bản Pác Bó để bản ta thoát khỏi kiếp sống nô lệ, bóc lột đến cùng cực. Các con phải tuyệt đối trung thành bảo vệ, phục vụ những người bạn tồng của pá.
Nghe lời pá dặn, bà Khìn và các chị em trong nhà tuyệt đối giữ bí mật, đưa đón bạn tồng của pá đi lại, ăn ở những ngày đến Pác Bó trước sự lùng sục gắt gao của quan Tây, lính dõng... Giáp Tết Nguyên đán Tân Tỵ 1941, ngoài trời lạnh buốt như kim châm, pá thức trắng đêm bên bếp lửa, vẻ mặt trầm tư... Rồi những ngày Tết, pá cùng mấy người bạn tồng không về nhà. Mấy mẹ con ở nhà ruột gan đỏ như than bếp... Khi pá về cùng ông Lê Quảng Ba, nói với tôi và chị gái Hoàng Thị Hoa rằng: Pá mới có thêm một người bạn tồng tốt bụng đang ở tạm tại hang Pác Bó đầu nguồn suối Giàng (tức suối Lê-nin). Hai chị em nấu cơm đem lên cho bạn tồng của pá nhé!
Nghe vậy, hai chị em tôi lo lắng hỏi pá: “Ngày Tết trời lạnh buốt thế này, sao bạn tồng của pá không đến nhà mình mà lại ở trên rừng núi đá lạnh, nhiều thú dữ...?”. Pá nhíu mày, trầm tư nói: “Hai con cứ bí mật làm như pá dặn, rồi sau này các con sẽ hiểu” - bà Hoàng Thị Khìn nhiều lần kể với tôi như thế.
Đang ngày Tết nên chị em bà Khìn đồ xôi và làm món thịt treo gói vào lá chuối, rồi theo ông Lê Quảng Ba đi lên đầu nguồn suối Giàng gặp ông Ké (sau này hai chị em mới biết ông Ké là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu).
Gặp hai chị em, ông Ké nói tiếng Nùng giọng ấm áp, ân cần hỏi thăm dân bản sống cực khổ thế nào và giải thích: Bọn quan lại tay sai và thực dân Pháp bắt dân ta nộp sưu cao, thuế nặng và bắt người đi phu, không cho dân ta đi học, bắt đi lính là để dân đói khổ, mù chữ, gia đình ly tán không có sức chống lại chúng. Các cháu có muốn dân bản ai cũng được tự do, cơm no, áo ấm? Lời ông Ké như ngọn lửa sưởi ấm lòng. Hai chị em reo lên: Có cách nào làm được điều ông nói? Ông Ké lại ôn tồn giải thích: Nếu dân bản già, trẻ, gái, trai, rồi người Tày, Nùng, Mông, Dao… ở khắp nơi cùng nhau hợp sức lại, học chữ làm cách mạng sẽ đánh đuổi bọn chúng, giành lại độc lập, tự do, hạnh phúc... Về nhà, hai chị em vui mừng kể lại cho pá nghe lời ông Ké. Pá tôi mừng lắm, bụng ưng lắm và bảo hai chị em nghe lời ông Ké vận động dân bản cùng nhau hợp sức làm cách mạng.
Tập hợp toàn dân đoàn kết theo cách mạng
Theo lời chị Vi Thị Hồng Thoa, bà ngoại Hoàng Thị Khìn từng kể rằng: Được cha động viên làm theo lời ông Ké, hai chị em bà thay nhau nấu cơm, nấu cháo ngô mang vào rừng cho Người và cán bộ cách mạng. Gánh củi, ngô đi bán đổi lấy muối ăn về cho cán bộ cách mạng. Những bữa cơm giản dị giữa núi rừng Pác Bó, chỉ cháo ngô, rau rừng… nhưng thấm đẫm nghĩa tình dân bản với ông Ké và cán bộ cách mạng.
Không chỉ lo đưa cơm cho ông Ké và cán bộ cách mạng, bà Khìn và chị gái còn tranh thủ khi đi lấy củi, làm nương gặp bà con xóm bản, hai chị em vận động mọi người đi học chữ, theo ông Ké làm cách mạng thì dân mình mới hết khổ. Ban đầu, nhiều người còn dè dặt, sợ quan Tây, sợ bị đánh đập, tù đày… Nhưng rồi nghe ông Ké giảng giải, thấy cán bộ cách mạng sống giản dị, gần gũi, yêu thương bà con nên dân bản ngày càng tin theo. Ông Ké còn tặng hai chị em cuốn “Việt Minh ngũ tự kinh” và ân cần dặn: “Các cháu phải học chữ để đọc hiểu sách. Có hiểu biết thì mới làm cách mạng cho tốt. Sau này giành được độc lập, tự do, Bác mới trả được hết công lao của các cháu”. Lời dặn ấy theo bà Khìn suốt cuộc đời.

Chị Vi Thị Hồng Thoa (cháu ngoại của bà Hoàng Thị Khìn, Lão thành cách mạng tại bản Pác Bó), hướng dẫn viên Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó thuyết minh, kể lại những ngày lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và cán bộ cách mạng trở về Tổ quốc tại cột mốc 108, Pác Bó, xã Trường Hà.
Những lớp học chữ được dựng ngay phía sau chiếc bàn đá - nơi ông Ké thường làm việc. Đồng chí Cao Hồng Lĩnh trực tiếp đứng lớp, còn ông Ké thường xuyên đến nói chuyện về đạo đức người cán bộ, về lòng yêu nước, thương dân. Những con chữ đầu tiên đã mở ra cánh cửa mới cho nhận thức của đồng bào Pác Bó.
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Pác Bó trở thành trung tâm huấn luyện cán bộ cách mạng. Người dịch lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, viết lịch sử nước ta, xuất bản Báo Việt Nam Độc lập, mở các lớp bồi dưỡng chính trị, quân sự. Biết chữ, bà con đọc được Báo Việt Nam Độc lập, hiểu đường lối của Mặt trận Việt Minh, hiểu vì sao phải đoàn kết, vì sao phải đứng lên giành lại cuộc đời mình - Chị Vi Thị Hồng Thoa nhắc lại lời bà ngoại với niềm xúc động. Bà Khìn kể rằng: khi hiểu ông Ké đặt tên suối Giàng là suối Lê-nin, núi Phja Tào là núi Các Mác, bà mới thấm thía con đường đấu tranh cách mạng mà Người mang về cho dân bản, con đường để không cam chịu đói nghèo, áp bức mà giành tự do, cơm no, áo ấm.
Phong trào cách mạng từ đó lan nhanh. Các tổ chức Hội Thanh niên, Phụ nữ, Phụ lão, Nhi đồng cứu quốc lần lượt ra đời. Bà Khìn và bà Hoa tham gia Hội Phụ nữ cứu quốc, vận động chị em trong bản đóng góp lương thực, bán củi đổi muối nuôi cán bộ, làm giao liên, đưa đón, bảo vệ cán bộ từ ba miền về Pác Bó học tập, huấn luyện và dự Hội nghị Trung ương 8 tại Khuổi Nặm. Ngay sau Hội nghị, phong trào Việt Minh phát triển mạnh mẽ. T ừ Cao Bằng, căn cứ địa cách mạng được mở rộng, nối liền với Bắc Sơn (Lạng Sơn) - Võ Nhai (Thái Nguyên), hình thành khu căn cứ địa phía Bắc rộng lớn.
Dân bản ngày càng tin theo lời ông Ké. Từ Trường Hà, Sóc Hà đến vùng Lục Khu, phong trào Việt Minh phát triển mạnh mẽ. Nhân dân các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao… tin theo Việt Minh, coi việc bảo vệ cán bộ, bảo vệ cơ sở cách mạng là bảo vệ cuộc sống của mình. Chính từ nền tảng ấy, nhiều xã, nhiều châu của Cao Bằng trở thành “xã Việt Minh hoàn toàn”, “châu Việt Minh hoàn toàn” trong những năm 1941 - 1944. Từ lòng dân Pác Bó, ngọn lửa cách mạng đã thực sự bùng lên, lan rộng ra cả nước, bền bỉ và không gì dập tắt được.
Bài ca độc lập ngân vang - Pác Bó hôm nay thôi thúc khát vọng đổi mới
Ngọn lửa cách mạng được ông Ké thắp lên từ lòng dân Pác Bó mùa xuân năm 1941 đã lan tỏa khắp non sông. Dưới ngọn cờ Việt Minh, đồng bào các dân tộc không phân biệt tầng lớp, tôn giáo, già trẻ, gái trai đã đoàn kết một lòng đứng lên làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Với người dân Pác Bó, đó là niềm tự hào sâu sắc: những điều ông Ké từng ân cần nói với bà con về một ngày dân ta được tự do, được làm chủ cuộc đời mình, nay đã trở thành hiện thực lịch sử.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đất nước bước sang kỷ nguyên độc lập, Pác Bó bước sang trang mới nhưng trong tâm thức nhiều thế hệ dân bản Pác Bó, ông Ké vẫn hiện lên như một người thân ruột thịt, một điểm tựa tinh thần, một biểu tượng của niềm tin và hy vọng. Tình cảm sâu nặng ấy được gìn giữ, truyền trao qua nhiều thế hệ, trở thành mạch nguồn bền bỉ kết nối quá khứ cách mạng với hiện tại đổi mới.
Trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đầu tư xây dựng Pác Bó trở thành Khu di tích Quốc gia đặc biệt - không gian văn hóa Hồ Chí Minh, vừa bảo tồn những dấu tích thiêng liêng của lịch sử, vừa lan tỏa sâu rộng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong đời sống xã hội. Tình cảm gắn bó máu thịt giữa Bác Hồ với đồng bào Pác Bó năm xưa luôn được dân bản nâng niu, khắc ghi với lòng biết ơn sâu nặng. Những câu chuyện về ông Ké không chỉ được lưu giữ trong tư liệu, hiện vật, mà còn sống động trong ký ức của từng gia đình, từng dòng họ, trở thành một phần bản sắc đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc nơi đây. Chị Vi Thị Hồng Thoa, hướng dẫn viên Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó chính là một trong những minh chứng sinh động cho sự tiếp nối ấy. “Mỗi câu chuyện tôi kể không chỉ là lịch sử, mà là máu thịt của gia đình, của dân bản. Ông Ké đã dạy bà con học chữ, dạy đoàn kết, dạy sống vì nhau. Hôm nay, giữ gìn di tích, làm du lịch, phát triển quê hương cũng là làm theo lời Bác” - chị Thoa xúc động chia sẻ.
Trong dòng chảy đổi mới của đất nước, Pác Bó không chỉ là nơi ghi dấu mốc khởi đầu của cách mạng Việt Nam, mà còn là biểu tượng sống động của sự tiếp nối. Từ ngọn lửa yêu nước ông Ké hun đúc trong lòng dân bản năm xưa, hôm nay đã nảy nở thành ý thức, trách nhiệm, tinh thần cống hiến của mỗi người dân đối với quê hương, đất nước.































