Mùa hương cổ thụ

Lớp mới có mười học viên, vài học sinh cấp ba, còn lại là học sinh lớp tám, lớp chín đang nắn nót từng nét bút lông. Đó là những mầm non thư pháp miễn phí của thầy Khu. Nắng nhẹ lọt xuống tán cổ thụ, làm những gương mặt tươi non càng trở nên rạng ngời, càng làm những nét chữ vừa thanh thoát, vừa trẻ trung.

Minh họa: Lý Long

Minh họa: Lý Long

Giờ giải lao, một học sinh nữ tóc dài vào pha cho thầy ấm trà mới, bưng ra, lễ phép mời thầy. Chim chóc trên cổ thụ nô đùa, nhảy nhót như để thưởng cho lớp học. Thầy Khu gật gù nhìn những nét óng ánh trên giấy tập của học trò mình, mãn nguyện.

Từ ngày nghỉ hưu, thầy được cử trông nom chùa Vọng Cổ, mở lớp thư pháp để thỏa đam mê truyền đạt nét chữ nết người, trao truyền cách ứng xử lễ nghĩa, sống hài hòa với thiên nhiên. Cổ nhân có câu "Học thư pháp khả dĩ tu thân, dưỡng tính, đào dã tâm tình", nghĩa là học thư pháp có thể tu thân, dưỡng tính, uốn nắn tình cảm. Xung quanh chùa là những dáng cây uy nghiêm, hiền từ, lúc nào cũng như muốn chở che. Trước sân, mé trái là cụ muỗm, cao lồng lộng, quanh năm tỏa bóng mát cho cả một khoảng trời rộng.

Cả chục năm qua, thầy Khu đã dạy bao nhiêu học trò, có đứa học giỏi và chẳng ít trẻ hư trong làng, xã. Mà lạ lắm, trẻ hư cứ đến với ông thì rúm ró, cái ương ngạnh, thói bốc đồng, bạo ngược biến đâu mất, cái ngoan ngoãn trở lại. Mà ông chẳng quát nạt, phồng má trợn mắt với bọn chúng. Ông cứ thủ thỉ thù thì, dùng lời lẽ tình cảm mà đay vào thùy não, dắt chúng đến với thư pháp.

Mà đã vào tay ông thì những gai góc, xấc xược sẽ được mài giũa, tính nết trẻ sẽ trở nên nhu mì. Phụ huynh nghe tiếng, chủ động mang con đến gửi gắm, thầy lại ra tay giúp đỡ. Hằng ngày, thầy sống giữa bầu không khí nhân hậu, trong tiếng chuông chùa, lời kinh, khỏa lòng nhân hậu lên những trái tim non nớt, giúp hướng thiện, học hành tấn tới. Vợ thầy ở nhà chăm vườn, cách đó trăm mét, rảnh tay vẫn giúp thầy dọn dẹp, quét tước, nấu nướng.

Một sáng trời mờ sương, những dáng cây còn bảng lảng như ngái ngủ, thầy thấy có gã trai đầu tóc bù xù, gầy đét, ngồi dựa gốc cây. Thầy Khu tiến lại, gã ngước nhìn rồi quỳ lên, xin cứu đời mình. Thầy nhận ra đó là Dũng, con nhà Khai ở xóm Phao. Thầy hỏi: “Cháu làm gì ở đây?”.

Đôi mắt đỏ đọc, Dũng rối rít nói mình là gã này, con nhà nọ, ở đâu và vì sao ra nông nỗi. Nhưng thầy Khu biết cả rồi. Nhà Khai đi làm ăn xa ở thành phố biển từ mấy chục năm trước, trở nên giàu có, mỗi lần về làng là làm đám thanh niên mắt tròn mắt dẹt. Nhưng sau này, con cái nghiện ngập, đánh nhau, chết hai người. Còn Dũng, hơn mười năm mắc nghiện, hai lần đi tù tổng cộng tám năm, người chẳng ra hồn người. Dũng từng lang bạt khắp nơi, sống chui nhủi, khổ sở, giờ về làng bị bạn bè, người thân xa lánh, bố mẹ ly tán.

Gần đây gã ra đường, đứng gần cổng chùa kiếm cớ gây sự với những người đi qua, trêu chọc phụ nữ, gây gổ với đám trai khiến dân làng ai cũng sợ hãi. Cô dì, chú bác ở làng chẳng muốn chứa. Không có bạn chơi, không tiền bạc, gã sang làng bên ăn trộm gà, trộm chó, bị người ta đánh vỡ đầu, đổ máu mồm. Cùng đường, Dũng đến xin nương nhờ cửa chùa và lòng nhân hậu thầy Khu.

***

Tin thầy Khu nhận thằng Dũng nghiện làm con nuôi, cai nghiện cho gã lan ra cả vùng. Nhiều người từng kính quý thầy giờ tỏ ra nghi ngờ, tại sao thầy lại giúp thằng nghiện. Thầy chỉ nghĩ, cứu một người phúc đẳng hà sa. Ngày xưa, khi còn là làm giáo viên phổ thông, thầy dạy môn văn, môi trường đó cũng đầy áp lực, chẳng phải đồng nghiệp nào cũng nghĩ và làm với tư duy trong veo như giọt nước. Có người thế này người thế kia, đầy bon chen hằn học. Người ta cũng đổ tiếng ác, hạ bệ thầy.

Nhưng ai càng ghét, đố kỵ thì thầy càng tốt lại. Đơn giản thầy nghĩ, đó cũng là một xã hội thu nhỏ chứa đựng đủ hỉ nộ ái ố. Năm đó, thầy dạy giỏi văn, nhiều em đến nhờ phụ đạo, được cất nhắc tổ trưởng bộ môn, bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi văn. Nhưng thầy Hắc lại muốn mình phải ở vị trí ấy. Bằng nhiều cách, thầy Hắc đã hạ bệ được thầy Khu. Nhưng khi đạt được mục đích, thầy Hắc đã kéo thành tích của nhà trường xuống. Học sinh vẫn muốn được thầy Khu phụ đạo. Khi nghỉ hưu, những người đố kỵ thầy Khu đã phải tâm phục khẩu phục, xin lỗi, tôn ông là… sư phụ.

Nhìn những gương mặt non nớt học thư pháp, mỗi nét như rồng bay phượng múa, Dũng thấy lạ. Dũng thưa: “Con cũng muốn học, thầy Khu ạ”. Thầy bảo: “Cậu hãy cứ cai xong đã”. Tiếp nhận Dũng là thầy đã chấp nhận lời đàm tiếu, song lại lo lớp học thư pháp bị ảnh hưởng. Lựa lúc học trò vui, thầy làm công tác tư tưởng cho chúng, cốt sao để chúng hiểu việc ấy rất nên làm.

Khổ nhất với thầy là những lúc gã con nuôi lên cơn, khua múa, vác dao chém bố nuôi. Song nhờ những viếng võ mà ông học được khi đi chiến trường, nên đã dễ dàng hóa giải được. Lúc Dũng vật vã vì thiếu thuốc, ông lại đè lên lưng, đấm bóp làm gã dịu lại. Phương pháp cai nghiện tốt nhất là lao động. Chưa bao giờ gã phải làm việc nặng, nhưng giờ phải cuốc đất, gánh phân, trồng rau, nuôi gà. Sau mỗi lần làm việc cật lực, mồ hôi vã ra, Dũng lại xuống sông cạnh chùa tắm rửa. Cứ thế, cơn nghiện thưa dần.

Khi ngơi việc, gã lại xin ngồi xem những học trò của thầy tập thư pháp. Thầy bảo, ai cũng có thể tập. Song để học thư pháp phải có đam mê và lòng kiên trì. Trong thư pháp có nhiều triết lý của cổ nhân. Với người trẻ, rèn luyện thư pháp giúp điềm tĩnh hơn, tính khí bớt nóng nảy. Ban đầu, cánh tay xăm trổ, khô cứng của Dũng lóng ngóng, rớt mực đầy ra giấy tập, nét chữ nguệch ngoạc, làm bọn trẻ cười như nắc nẻ. Thầy Khu nhắc:

- Các bạn đừng cười người bắt đầu cầm bút. Hãy giúp đỡ anh ấy.

Thầy chẳng ngại dẫn ra, thằng Loan, thằng Hành, thằng Hào nghịch ngợm như quỷ sứ, thầy còn rèn cho đâu ra đấy. Chẳng những chúng biết lễ phép, kính trên nhường dưới, mà còn lấy được vợ đẹp, có con xinh. Rồi cô Ngoan, từng như kẻ rách trời rơi xuống, ăn chơi trụy lạc, mười năm trước được thầy hồi tâm, đã biết được chữ hạnh, chữ hiếu. Cô tham gia lớp học, sau đó còn làm “trợ giảng” cho thầy. Năm ngoái Ngoan lấy chồng bên kia sông, hai vợ chồng trẻ chí thú làm ăn, mở cả trang trại rau sạch, ăn nên làm ra, nổi tiếng khắp vùng.

Rồi trong lớp hiện tại, quá nửa thành viên từng chán, bỏ học, quậy phá, trộm vặt. Giờ tất cả ngồi ở đây. Đó không chỉ là cái duyên, mà còn là những tâm hồn có chung khát vọng tốt đẹp.

Giọng thầy xúc động, say sưa, suýt nữa đã bật khóc. Nói thế, thầy không hy vọng tất cả hiểu hết ý mình, mà một tí ti tâm tư của thầy rót được vào tâm khảm chúng, cũng là điều đáng mừng.

Cả lớp im lặng. Những giọt nắng lọt xuống lớp, chim chóc rắc tiếng hót lên thềm rêu, mặt bàn gỗ mộc. Rồi sự im ắng có phần căng tức được khơi thông bởi câu chốt của thầy: “Chúng ta hãy giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”.

Sau vài phút e dè, thành viên lớp học thư pháp đã dám ngồi gần Dũng hơn, chỉ cho gã cách cầm bút, cách lấy mực, đặt bút. Mỗi khi tô được một nét đúng ý bọn trẻ, Dũng cười sằng sặc.

Bà vợ thấy ông vất vả vì gã con nuôi, thì xót. Nhưng sự quyết tâm, vững vàng của thầy đã giúp bà an lòng. Mỗi ngày, trong giờ nghỉ ngơi, sân chùa vắng lặng, ông lại ngồi xuống thềm rêu xanh mướt, nghe tiếng chim, nghe tiếng lá rơi. Hoa muỗm mộc mạc đẹp. Hoa thị vừa thơm vừa mát. Mùa thu thi nhau chín, mùa hoa quả thi nhan sắc, tạo thành lễ hội của riêng chúng và bao giờ mùi hương cũng gọi chim về.

Thầy không biết những cổ thụ này được trồng từ bao giờ, chỉ nhớ thời niên thiếu, thầy vẫn cùng đám trẻ chơi đùa dưới bóng cây, còn lấy đất sét ở ao sau chùa để nặn con giống, nặn hình vua quan, các ông bà, người thân mình thích ở trong làng. Ngày đi chiến trường, người thân, dân làng tiễn những đứa con ra chiến trường, cũng dưới những tán cây.

Sau này, có người con không về làng nữa, thầy vẫn bâng khuâng nhớ khuôn mặt họ, những tuổi đôi mươi vì dân vì nước… Mấy năm trước, những cổ thụ được phong danh hiệu Cây di sản, cả làng tự hào, trống dong cờ mở, mổ lợn ăn mừng ngay dưới bóng lá rợp mát. Còn thầy, tự thấy mát lòng mát dạ vì cổ thụ được vinh danh.

***

Cô con gái út giãy nảy khi nghe thầy Khu nói Dũng đã để ý cô. Thầy nói với Thúy rằng, Dũng chưa phải là đồ bỏ đi. Lúc đầu, Dũng xin thầy gả con gái, ông cũng giật mình. Một gã trai có “thành tích” bất hảo lại cả gan đòi làm con rể ông ư? Con Thúy dù có lớn tuổi tí chút, nhưng vẫn có người hỏi cưới. Song nghĩ lại, thầy tự nhủ, một gã nghiện rất dễ quay lại con đường cũ nếu không có người bảo ban, quan tâm. Đã giúp thì giúp cho hết nhẽ.

Ông tận tậm, trọng vẹn, người đời cũng sẽ lấy đó là bài học, rằng chuyện gì cũng có thể xảy ra, và khi sống nương theo lòng nhân ái, người ta có thể làm được những điều kỳ diệu. Thế là thầy tìm cách thuyết phục con gái. Ông thường sai con giặt giũ quần áo cho mình và Dũng, hay đi gọi gã về ăn cơm, bảo gã chở lên phố mua thứ này thứ nọ… Thúy thấy giờ đây Dũng lành như đất, làm việc băng băng, lại tranh thủ tập thư pháp, cô mềm lòng.

Sau đám cưới, thầy Khu cất cho vợ chồng Dũng một ngôi nhà nhỏ, cho làm hai mẫu ruộng. Mùa tiếp mùa, năm tiếp năm, Dũng đã có thành quả. Đứa con khôi ngô ra đời. Rồi Dũng nhận thấy nếu cứ làm ruộng mãi, cuộc sống sẽ mãi vất vả. Dũng xin bố vợ đưa vợ con về thành phố biển mở nhà hàng. Điều đó không khỏi khiến thầy Khu lo ngại.

- Ở đó cạm bẫy nhiều, bố không biết con có giữ được mình.

Dũng nói gần như khóc, cam đoan:

- Con đội ơn bố đã sinh ra con lần hai, lại tin tưởng gả con gái cho con. Con lớn rồi. Con hiểu nỗi đau của gia đình, các anh, em con đều đã…

Thầy gật đầu. Chợt thấy gió thổi ào sau gáy. Cũng phải chấp nhận thôi. Thầy thấy mình không thể cả đời dõi theo gã được, gã phải đoạn tuyệt hẳn quá khứ bất hảo. Trước khi để vợ chồng gã đi, thầy dặn dò nhiều.

***

Giờ đây hàng xóm láng giềng thở phào. Thời gian qua họ nín thở xem thầy xoay xở thế nào với Dũng. Giờ kết quả ai cũng rõ. Các bô lão trong làng ra chùa, gặp thầy thì ca ngợi hết lời. Ngay khi vợ chồng gã sinh con thứ hai, thầy bảo đưa con lớn về để ông bà thầy nuôi. Vợ chồng gã chí thú làm ăn, đến những đồng chí công an cũng gửi lời cảm ơn thầy vì đã giúp cải tà cho một gã khét tiếng nghiện ngập, nay sống hữu ích. Gã còn dùng phương pháp của thầy, cai nghiện thành công cho hai gã em họ khác.

Hôm ấy, đang dạy thư pháp thì lão Tiến ở xã bên, đồng đội của thầy ào đến. Lão Tiến kể, thằng cháu nội của mình đã bỏ học, chuyên ăn cắp vặt, xin thầy có cách hay chỉ giáo. Pha trà, mời khách, hỏi chuyện một lúc, thầy nhìn lên tán cây, đang phát hương bay đi như những sợi khói, thầy bảo:

- Chúng ta sẽ tìm cách, đưa thằng bé ấy đến đây. Tôi tin ở đây, nó sẽ quy chính!

Lão Tiến nhìn vào đám học trò, đang say sưa luyện bút. Hiểu ý nghĩ lão, thầy Khu nói vui:

- Ở đây, tôi gieo chữ, nhưng sẽ gặt được những mùa người!

Hai người đồng đội với mái đầu bạc bắt tay nhau, có sự chứng kiến của cổ thụ, những đứa trẻ, và hình hài tiếng chim ngoan lẫn trong sắc diệp lục của thiên nhiên.

Truyện ngắn: Nguyễn Văn Học .

Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/mua-huong-co-thu-451645.html