Mỗi độ xuân về...

Ký ức vẫn đập - như một quả tim thứ hai.

Xuân 1966 - như một nghi lễ vào đời, ở tuổi 18. Chậm hơn người nguyên thủy. Bắt đầu bằng một chuyến tàu đêm sau Tết, rồi một chuyến xe tải bịt bùng, và một cảm giác lạ lùng khi một bạn gái ngồi cạnh cứ ngủ gục vào vai mình suốt đoạn đường, khiến cho đêm tối thoang thoảng một thứ hương mà cho đến giờ chỉ biết gọi là hương trinh nữ.

Chuyến xe đưa mình vào một mùa xuân giữa núi rừng Việt Bắc bên bờ sông Kỳ Cùng, nơi sơ tán của khoa Mỏ - Địa chất Đại học Bách khoa. Mùa xuân của những lần đầu. Lần đầu bị mê hoặc bởi vẻ đẹp của đàn bướm mới nở trắng phau ngọn suối, những loài côn trùng kỳ dị sặc sỡ trong bụi dương xỉ, âm thanh vang vọng và những luồng sáng lấp lánh đường bệ giữa những trảng vầu, tre, nứa ven sông như trong những giáo đường cao vút.

Lần đầu cùng ăn, ngủ, gồng gánh, cưa, chặt, buộc lạt, ngồi cùng lớp với những người khác hẳn mình, cả già lẫn trẻ, vào tay Balzac thì chắc chắn thành những nhân vật lạ lùng lắm. Mình học được ở những nhân vật ấy đủ thứ: câu hát trống quân “Gió mát trăng thanh cái đêm hôm rằm, nàng ơi gió mát cùng là trăng thanh…”; rồi câu cải lương “lòng anh muốn ăn chuối, mà em nói chưa chín, thì thôi thôi em ơi em để cho chuối ư chín ư ư muồi…”, những câu tiếu lâm lạ lùng, nhát dao chặt tre đốn gỗ, những nút lạt buộc khác nhau. Dần nhận ra thế nào là khẳng khái trung thực, thế nào là ganh đua, là làm bộ nhỏ nhặt.

Những giấc mơ lạ trong chiếc túi ngủ làm từ tấm chăn bông có dây buộc rồi cuốn thêm một tấm ni-lông ngoài cùng cho đỡ lạnh thêm chút nữa. Giường là cả một tấm phên nứa dài gần chục mét buộc lên một khung tre cao lên khỏi mặt đất chừng 50 phân tây, đủ chỗ cho một chục đàn ông con trai nằm cạnh nhau, ai trở mình trằn trọc là tất cả đều cọt kẹt theo. Chắc cả lớp mình ai cũng đều có những giấc mơ đêm lạ lùng cả.

Sáng ra xuống suối đánh răng rửa mặt thì đều thấy nhau, mỗi người mỗi kiểu. Nhưng chả ai biết ai đi tắm đi ỉa ở đâu. Thế mới tài. Chỉ biết là những bụi ớt xanh chỉ thiên ở quanh lán trại ra quả rất sai, cay buốt óc. Rồi thì một lần lũ về cuốn sạch nhà bếp của cả mấy lớp cùng ở đó. Mấy ngày nhịn đói rồi mới được tiếp tế, mà tất cả thầy trò đều lội bộ hàng chục cây số ra Na Sầm chia nhau gánh gạo, muối, bí đao, bột mì… về dựng lại nhà bếp. Hai chị cấp dưỡng cứ chảy nước mắt không giấu được.

Ký họa bút chì hai bạn ngồi học bên cửa sổ lán ngủ tre nứa lá. Tranh: Trịnh Lữ

Ký họa bút chì hai bạn ngồi học bên cửa sổ lán ngủ tre nứa lá. Tranh: Trịnh Lữ

Vậy mà không thể nào quên những bữa cơm cứ 6 người một mâm, độn sắn độn ngô, hoặc chỉ là một nắm bột mì luộc cứng như đạn súng thần công với một bát canh rau cải đen như thuốc bắc, suốt mùa xuân ấy. Ngồi ăn mà có cơm với tí rau rừng tí thịt trâu thì ai cũng ý tứ nhường nhịn lẫn nhau. Lớp có hai cán bộ lớn tuổi đi học để về làm lãnh đạo thì ngồi mâm nào là mâm ấy sẽ có một trong hai bạn nữ của lớp ngồi cùng, xới cơm và rửa bát cho hai anh. Nghĩ lại thấy như trong tiểu thuyết.

Những tình bạn nẩy nở từ mùa xuân ấy vẫn đậm đà cho đến tận bây giờ. Tập tranh bút chì màu nước vẽ trong những ngày xuân ấy cũng vẫn còn đậm nét. Mọi vi phân tích phân với số nguyên tố và muôn vàn thứ công thức với nguyên lý gì gì nữa đều quên sạch cả. May mà mấy thầy cứ chấm cho mình đủ điểm đều bảo “Sau này đi làm cần gì thì cậu cứ đọc sách là biết ngay ấy mà…”. Mình cũng vẫn còn đây. Có khác gì mình trong mùa xuân ấy không?

Xuân 1974 - bắt đầu một giao ước, ở tuổi 26, rằng mình sẽ sống với người bạn gái cùng lớp ngày xưa này, và sẽ có một gia đình êm ấm với nhau. Một giao ước như trong tiểu thuyết. Ừ thì cũng đã làm phát thanh viên tiếng Anh của Đài Tiếng nói Việt Nam được hơn hai năm, đã là người đầu tiên đọc toàn văn Hiệp định Paris cho thế giới biết từ một phòng bá âm ở tận Côn Minh bên Vân Nam, nhưng vẫn chỉ là cộng tác viên ngoài biên chế, mỗi tháng 30 đồng tiền thù lao. Nhà cửa đổ nát vì trúng bom từ 1967, mới chỉ lợp lại được một phòng cho mấy mẹ con cùng trú ngụ, nước thì gánh về từ một vòi nước công cộng ở góc phố, điện thì móc liều vào nhà chỉ để thắp đèn. Mà vẫn có cây đàn Faulkner sống sót qua trận bom, vẫn đủ phím dây, nên thi thoảng vẫn có “tiếng dương cầm trong căn nhà đổ”.

Tối ấy mưa xuân, lạnh, đèn đường nhập nhoạng, dưới hiên nhà bạn, chỉ cách hai đoạn phố, lúc chia tay ra về, bạn bỗng ngỏ lời “Mình cưới nhau đi”. “Cưới rồi thì ở đâu?”, mình buột miệng. Bạn thì thầm: “Ở đâu chẳng được…”.

Vậy là, giống như khi ta muốn đi, thì con đường sẽ hiện ra trước mắt. Không có một xu nào, thì một người bạn cùng lứa, đã làm thợ hàn gần chục năm, đưa mình 200 đồng, bảo “mày cưới nó đi, bao giờ có tiền trả cũng được, không tính lãi đâu”. Cái phòng đã lợp mái thì có 6 mét vuông là phần hành lang, thế là được bạn thợ hàn giúp sức, làm một sàn gác xép trên phần hành lang ấy để cưới vợ, như một cử chỉ chấp nhận giao ước mới với cuộc đời. Bố cầm 200 đồng ấy sang xin làm thông gia, rằng “Chẳng tiền nào xứng với con gái của hai bác, nhưng chúng tôi cũng chỉ có thế này…”. Mẹ cũng tìm mua cau và mấy thứ mang sang như sính lễ, bảo mình “Mẹ tìm được chùm cau màu đẹp lắm…”.

Sau này bạn nói mới biết là cả nhà bên ấy rất ngạc nhiên mà không ai dám nói, vì chùm cau màu nâu vàng ấy là rất già rồi, nhẽ ra phải là cau tươi xanh mới đúng cho đám cưới. Sau kể cho mẹ thì mẹ thốt lên “Thôi chết! Mình chả biết gì về tục lệ cưới hỏi, chỉ thấy cau màu đẹp là mua, nghĩ là nhất chợ rồi…”.

Chân dung bạn đời vẽ trên gác xép xuân 1974. Tranh: Trịnh Lữ

Chân dung bạn đời vẽ trên gác xép xuân 1974. Tranh: Trịnh Lữ

Quà cưới của bố là bộ bách khoa toàn thư thế kỷ XX gồm 6 tập của nhà La Rousse, bộ sách mình yêu thích từ hồi bé tí chưa biết chữ. Bức chân dung đầu tiên mình vẽ bạn ở trên gác xép ấy vẫn tươi màu đến tận giờ. Bức tranh đầu tiên bạn vẽ lọ cắm bút của mình trên ấy cũng còn nguyên. Nhiều trang dịch thơ Tagore trên đó, cùng những trang nhật ký, cũng vẫn sống sót đến tận giờ. Đứa con đầu lòng đã hoài thai từ căn gác xép ấy. Khi đón nó quấn tròn tã trắng, mình đã thấy kiếp sau bắt đầu… Hơn nửa thế kỷ đã qua đi, mà mỗi bận xuân về, trong lòng vẫn bồi hồi như lúc nghe lời thì thầm “Ở đâu chẳng được…” trong đêm xuân giao ước ấy.

Xuân 2011 - một giao ước nữa với cuộc đời. Nghĩa trang liệt sĩ Bình Trị, Quảng Nam. Mấy anh chị em vào để đưa di hài anh trai mình về Hà Nội. Đào mãi chả thấy gì. Tạm dừng tay một lúc thì bỗng có một con rắn thanh tú xuất hiện và trườn ngược lên trên cán thuổng hướng sang phía bên trái của ngôi mộ. Cái đầu màu nâu vàng, đôi mắt đen, lưỡi đỏ tươi chẽ đôi phóng ra phía trước liên tục như muốn chỉ đường. Trườn nhanh hết cán thuổng thì lại biến mất vào lòng đất. Đào theo hướng đó, thì tìm thấy Anh, một nắm xương tàn trong lòng đất đen.

Được sự giúp đỡ rất nhiệt tình của chính quyền địa phương, và đặc biệt là của đại diện báo Lao Động trong Đà Nẵng - em Nguyễn Trung Hiếu, chúng tôi mới đưa được di hài Anh lên máy bay về Hà Nội, trong một hộp xốp bọc quốc kỳ. Lúc hạ cánh xuống Nội Bài, thì thấy cảnh người Mỹ đang tiếp nhận di hài một người lính trong một cỗ quan tài phủ quốc kỳ của họ, với một nghi lễ trang trọng. Ôm di hài Anh trong lòng, mình bỗng thổn thức nghe thấy lời giao ước với Anh từ 34 năm về trước, khi Anh đã đốt cháy cả hai bó nhang từ lòng đất để mẹ và em biết chỗ anh nằm, và em đã đặt mộ chí cho anh, rằng “Anh sẽ có mặt trong mọi việc em làm; những thứ em thèm, những điều em ghét… Em sẽ phải sống cả cái phần cuộc đời mà viên đạn vô danh nào đã lấy đi mất của anh…”.

Di cốt Anh trong phòng trọ. Ảnh: Trịnh Lữ

Di cốt Anh trong phòng trọ. Ảnh: Trịnh Lữ

Khi di hài anh được qui tụ về nghĩa trang liệt sĩ Bình Trị, mình đã theo nguyện ước của mẹ và Anh, giúp địa phương xây tường làm cổng nghĩa trang, và làm mộ chí cho tất cả những đồng đội của anh ở đó. Mẹ đã viết thế này khi tìm được anh: Trời cao lồng lộng / Đất rộng mênh mang / Cây cỏ bạt ngàn / Là nơi yên nghỉ /Lòng người chung thủy / Vạn kiếp tri ân / Nguyện chu chân linh / Vãng sinh cực lạc.

Ba mươi tư mùa xuân sau đó, đầu năm 2011, em mới đưa được Anh về. Và em đã gửi đến vong linh Anh mấy lời như từ cõi lòng của Mẹ: “Hôm nay, đưa Anh về chốn yên nghỉ cuối cùng và gần gụi gia đình, cả nhà đều mong anh vẫn thấy mình vẫn được ấp ủ bởi bầu trời cao lồng lộng của Cha, đất rộng mênh mang của Mẹ, cây cỏ bạt ngàn của tình đồng đội và vạn kiếp tri ân của tất cả anh chị em trong nhà, bạn bè gần xa, và đồng bào mình anh nhé”. Còn em, em vẫn thấy Anh sống với em, trong mọi việc em làm… Một giao ước mà em luôn nhớ mỗi bận Xuân về.

Xuân 2013 – vỡ nhẽ về lẽ đời giản dị. Lúc ấy mình vẫn đang loay hoay tìm một thái độ thích hợp để viết cuốn Họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc - Từ những tác phẩm còn lại. Thời trẻ bố Ngọc vẫn đạp xe Hà Nội - Sài Gòn. Nên mình muốn xem một chuyến đạp xe như vậy có giúp mình cảm nhận được gì thêm về bố Ngọc không. Nhưng khi lên đường, ngay sau Tết mười hôm, và sau một vài lần nghỉ dọc đường, trò chuyện với mọi người, mình bỗng có ý phải hỏi xem nếu được ước ba điều ngay lúc ấy, thì mỗi người sẽ có những điều ước gì, suốt dọc chiều dài đất nước.

Mười tám ngày trên đường, mỗi ngày ba bốn lần nghỉ, mỗi lần mỗi khác, mỗi nơi mỗi khác, mà ba điều ước thì giống hệt nhau ở chỗ chả có điều ước nào phản ánh những ước mơ “đại tự sự” như trên báo chí phát thanh truyền hình, kiểu “ta sẽ thành con rồng châu Á”, “sẽ vượt Singapore”, “văn học ta sẽ có giải Nobel”, “phim ta sẽ thắng giải Oscar”… Thảng hoặc có khác nhau thì là do thành phần xã hội: những ai đang còn là cán bộ địa phương thì ước chính sách chế độ hợp lý hơn để đỡ mâu thuẫn xã hội, nhất là ở các tỉnh phía nam sông Bến Hải. Còn hễ đã là người lao động bình thường thì gần như tất cả đều chỉ ước có sức khỏe tốt, con cháu học hành ngoan, lớn lên lấy vợ lấy chồng hiền lành tử tế, rồi nối được nghề truyền thống của gia đình…

Qua gần 2 ngàn cây số đạp xe, ngày đi đêm nghỉ, những cuộc chuyện trò ấy khiến mình nhận ra một điều: cuộc sống thật sự rất giản dị với tuyệt đại đa số đồng bào, vẫn hay được gọi là “nhân dân”. Cái vỡ lẽ ấy, không hiểu sao lại khiến mình phát khóc đêm hôm vào đến Long Hải, khi ngồi ngắm mặt trời lặn ngoài bến cá. Gần như là một cái gì rất quý mình đã tìm được trong chuyến đạp xe dài ngày ấy.

Mà mười năm sau, mình bỗng gặp lại một trong những người đã cho mình biết ba điều ước. Xin để cho trang Facebook ghi lại ngày hôm ấy thay lời mình ở đây.

Xuân năm nay - muốn nghĩ đến những mùa xuân sẽ đến. Mà thấy thật mông lung, chả biết nên mong chờ gì. Giá là một cái cây, thì chả phải nghĩ, trước khi Xuân về là đã có Hạ, Thu, Đông; mà dù có “biến đổi khí hậu” thì cũng cứ tùy trời đất mà thay lá ra hoa kết trái. Đại hồng thủy hay đại hỏa hoạn thì đổi kiếp thay đời, chả phải toan tính gì. Đằng này lại trót đang làm người, rồi lại có người có ta, có trên có dưới, có xa có gần, có ngoài có trong, có hơn có kém, có được có mất… Mà vẫn cứ không quên, rằng “Ngẫm hay muôn sự tại Trời…”. Tốt nhất là cứ thích gì mong nấy, cứ thực lòng mình là được.

Chợt lại nhớ đến lời người xưa, rằng “Người ta đi cấy lấy công / Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề / Trông trời trông nước trông mây / Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm / Trông cho chân cứng đá mềm / Trời êm biển lặng mới yên tấm lòng”.

Xin gửi đến bạn đọc bài này những lời chúc tốt lành nhất cho mùa xuân đang đến của chúng ta.

Trịnh Lữ

Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/moi-do-xuan-ve-51720.html