Mở rộng không gian tiếp cận văn hóa từ dữ liệu số

Trong quá trình chuyển đổi số, dữ liệu tạo nền tảng để các ứng dụng và sản phẩm văn hóa số vận hành hiệu quả. Hệ thống dữ liệu đầy đủ, chính xác và được kết nối đồng bộ sẽ hỗ trợ công tác quản lý và mở rộng khả năng quảng bá, phục vụ công chúng trên môi trường số.

Cục Nghệ thuật biểu diễn sẽ cập nhật các chương trình và hoạt động biểu diễn tiêu biểu vào hệ thống dữ liệu số. Trong ảnh: Chương trình Tổ quốc trong tim của Báo Nhân Dân (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Cục Nghệ thuật biểu diễn sẽ cập nhật các chương trình và hoạt động biểu diễn tiêu biểu vào hệ thống dữ liệu số. Trong ảnh: Chương trình Tổ quốc trong tim của Báo Nhân Dân (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Trong bối cảnh Chính phủ quyết liệt triển khai các nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang đẩy mạnh chuyển đổi số và hoàn thiện hạ tầng văn hóa số. Việc hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung và kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, chia sẻ dữ liệu văn hóa, đưa các giá trị văn hóa trở thành nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa.

Chuyển đổi số đang diễn ra trên các lĩnh vực văn hóa, tạo nền tảng cho các sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm văn hóa mới. Từ hoạt động số hóa tư liệu riêng lẻ, ngành văn hóa đang chuyển sang giai đoạn xây dựng hạ tầng dữ liệu đồng bộ: Lĩnh vực di sản tập trung số hóa di tích, hiện vật và hồ sơ khoa học; lĩnh vực thư viện xây dựng thư viện số và kho học liệu mở; điện ảnh phát triển lưu trữ phim số và nền tảng phân phối trực tuyến; nghệ thuật biểu diễn số hóa tác phẩm, chương trình và tư liệu sân khấu; mỹ thuật và nhiếp ảnh thiết lập cơ sở dữ liệu tác phẩm phục vụ nghiên cứu, giám tuyển và quảng bá… Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, việc xây dựng cơ sở dữ liệu gắn trực tiếp với hoạt động sáng tác, quảng bá giá trị các tác phẩm nghệ thuật.

Ông Trần Hướng Dương, Phó Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết, đơn vị này đang xây dựng đề án số hóa và sắp xếp cơ sở dữ liệu các chương trình và hoạt động nghệ thuật biểu diễn. Các vở cải lương, kịch nói tham gia các liên hoan nghệ thuật từ năm 2021 và đoạt giải thưởng sẽ được số hóa để phục vụ tuyên truyền, quảng bá và giới thiệu rộng rãi tới công chúng.

Việc lựa chọn các tác phẩm nghệ thuật đưa vào hệ thống dữ liệu sẽ được hội đồng chuyên môn gồm các nhà nghiên cứu nghệ thuật, mỹ thuật và đại diện cơ quan chức năng thẩm định. Song song cập nhật hệ thống dữ liệu và chương trình có giá trị về nội dung và nghệ thuật, Cục Nghệ thuật biểu diễn cũng định hướng bổ sung các sáng tác mới. Có thể thấy, về lâu dài, hệ thống cơ sở dữ liệu về tác phẩm và hoạt động nghệ thuật biểu diễn sẽ tạo nguồn tư liệu phục vụ công tác quản lý, bảo tồn, nghiên cứu, đào tạo và quảng bá văn hóa Việt Nam. Việc kết nối cơ sở dữ liệu với hạ tầng công nghệ phù hợp sẽ tạo điều kiện để các chương trình biểu diễn được lưu trữ, giới thiệu, phổ biến trên môi trường số, đưa nghệ thuật biểu diễn Việt Nam đến với công chúng trong nước và quốc tế.

Trong lĩnh vực bảo tàng, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trở thành giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản Việt Nam. Song song hoạt động số hóa hiện vật, các bảo tàng đang xây dựng hệ thống dữ liệu, bảo đảm an toàn nguồn tư liệu và nâng cao khả năng chia sẻ, khai thác trong nghiên cứu, giáo dục và hợp tác chuyên môn. Là một trong những bảo tàng quốc gia đầu tiên xây dựng cơ sở dữ liệu số đồng bộ, đến nay Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã số hóa khoảng 95% trong tổng số gần 21 nghìn hiện vật đang lưu giữ. Mỗi hiện vật đều có hồ sơ điện tử với đầy đủ thông tin về nguồn gốc, chất liệu, niên đại, tình trạng bảo quản, hình ảnh và các tài liệu nghiên cứu liên quan.

Việc số hóa và chuẩn hóa dữ liệu đã tạo ra thay đổi rõ nét trong công tác quản lý hiện vật. Bảo tàng đã xây dựng thư viện số, từng bước số hóa các tài liệu nghiên cứu, hình ảnh, bản thảo và hồ sơ lưu trữ. Từ hệ thống dữ liệu số, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam phát triển các sản phẩm số phục vụ công chúng như ứng dụng đa phương tiện iMuseum VFA và không gian triển lãm mỹ thuật trực tuyến (VAES), góp phần mở rộng không gian tiếp cận nghệ thuật và lan tỏa giá trị mỹ thuật Việt Nam trên môi trường số.

Hiệu quả của chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu số thể hiện rõ qua sự gia tăng lượng khách tham quan. Từ một địa chỉ còn ít được biết đến, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã trở thành điểm đến quen thuộc của giới trẻ, các gia đình và khách du lịch. Trong khoảng 5 năm gần đây, lượng khách tham quan tăng hơn 300%, trong đó khách trong nước chiếm khoảng 70%. Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam Nguyễn Anh Minh cho biết: Ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản mỹ thuật, trong đó cơ sở dữ liệu số là nền tảng để bảo tàng tiếp tục phát triển sản phẩm, mở rộng khả năng tiếp cận di sản và nâng cao chất lượng hoạt động.

Thực tiễn từ các lĩnh vực văn hóa cho thấy, dữ liệu số đang giữ vai trò trung tâm trong quá trình chuyển đổi số và hình thành các sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm văn hóa mới. Để mở rộng sự hiện diện của văn hóa Việt Nam trên không gian số, các nhà quản lý văn hóa cho rằng, các cơ quan quản lý cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu số và hạ tầng công nghệ; đẩy nhanh xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia. Mặt khác, cần nghiên cứu ban hành bộ tiêu chuẩn dữ liệu thống nhất nhằm bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa các đơn vị. Bên cạnh đó, đào tạo nhân lực công nghệ số, quản trị dữ liệu và truyền thông số sẽ nâng cao năng lực chuyển đổi số của ngành văn hóa trong giai đoạn tới.

NGỌC LIÊN

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/mo-rong-khong-gian-tiep-can-van-hoa-tu-du-lieu-so-post977277.html