Mạch chữ - dòng sử - dòng đời
VHXQ - Những tờ sắc phong, văn khế, hoành phi, liễn đối bằng chữ Nho (Hán - Nôm) nhuốm màu thời gian ở phố cổ, đình làng, hay cuốn gia phả nằm im lìm trong các nhà thờ tộc... đó là những mạch chữ âm thầm qua thăng trầm lịch sử đọng lại thành dòng đời sâu lắng của đất và người xứ Quảng.

Xứ Quảng, miền đất lưu giữ những lớp trầm tích Hán Nôm qua bao thế hệ Ảnh: KIM LIÊN
Xứ Quảng có hành trình lịch sử - văn hóa đặc biệt, nơi nhiều lớp cư dân và văn hóa tộc người giao thoa qua nhiều thế kỷ. Nguồn di sản tư liệu nơi đây phong phú cả nội dung, chất liệu lẫn hình thức.
Riêng về mạch chữ Hán Nôm (mà ông bà xưa hay nói chữ Nho) được khắc trên đá, đồng, vàng, bạc, gỗ, giấy, vải... trải dài từ đồng bằng ven biển đến các làng quê trung du, miền núi.
Thế nhưng, phần lớn nguồn tư liệu ấy còn phân tán, ẩn mình trong đình, chùa, nhà thờ tộc, đền miếu và các tư gia. Có những thứ đã được biết đến, nhưng cũng còn không ít mạch chữ chờ được nhận diện, khảo sát và giải mã.
Tìm về những mạch chữ Nho, vì thế, không chỉ là tìm một nguồn di sản tư liệu. Đó là tìm về ký ức và văn hóa của một vùng đất.
Dòng sử và chữ Hán Nôm
Trước thế kỷ 15, xứ Quảng từng là một bộ phận quan trọng của Vương quốc Champa, với loại chữ còn để lại hệ thống bi ký quý giá, phần lớn khắc chữ Sanskrit trên đá. Nhưng từ thế kỷ 15 về sau, dòng lịch sử đổi dời khi cư dân Đại Việt tiến về phương Nam, kéo theo những lớp lưu dân vào khai phá, lập làng, dựng nghiệp ở xứ Quảng. Một mạch chữ mới xuất hiện, đan xen chữ Hán, chữ Nôm. Đây là di sản tư liệu đồ sộ, phong phú.

Bia Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật (trên vách bên trái) trong động Hoa Nghiêm. Ảnh: VHA
Ví như ở Hội An, mạch chữ ấy lưu dấu một thời thương cảng quốc tế sầm uất của Đàng Trong. Theo những chuyến thuyền vượt biển, người Hoa, người Nhật và người phương Tây tìm đến, buôn bán, cư trú, giao thương và cùng nhau tạo nên một không gian văn hóa đa sắc.
Dấu tích của những cuộc gặp gỡ ấy còn in lại trong văn bản, minh văn, hội quán, những khế ước và giấy tờ gắn với đời sống thường nhật. Qua những dòng chữ ấy, một Hội An xưa - nơi những con người cụ thể từng đến, từng sống, dựng nhà, lập nghiệp, trao gửi tài sản... dần hiện diện rõ nét hơn.
Ở Ngũ Hành Sơn, chữ được khắc trực tiếp vào vách đá, hang động tạo thành một kho tư liệu đặc biệt. Hệ thống Ma nhai Ngũ Hành Sơn gồm 78 văn bản Hán Nôm, có niên đại từ nửa đầu thế kỷ 17 đến thế kỷ 20 đã được ghi danh vào Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO năm 2022.
Mạch chữ còn nằm trong những sắc phong của các triều vua cho nhân thần, phúc thần; trong hoành phi, liễn đối, văn chỉ, xã chí, gia phả họ tộc trên xứ Quảng. Rồi còn những thư tịch cổ được lưu giữ như địa bạ, hương ước, sắc phong đình làng, miếu mạo...
Tất cả hợp lại thành một thứ biên niên sử bằng ký tự, ghi dấu bước chuyển dịch của một vùng đất mở về phương Nam.

Nét chữ xưa trên những bức hoành phi, liễn đối tại Trừng Hán Cung. Ảnh: VHA
Dòng đời và khát vọng nhân sinh
Nếu chỉ đọc mạch chữ để tìm niên đại và sự kiện thì có lẽ vẫn chưa chạm đến phần sâu nhất của di sản. Bởi cuối cùng, mọi dòng sử đều trở về dòng đời.
Những tấm bia đá trước hết là khát vọng của con người muốn giữ lại một điều gì đó lâu hơn đời mình. Họ gửi nó vào đá. Đó là câu chuyện di trú, lập nghiệp và niềm tin.
Những dòng chữ trên bia Phổ Đà Sơn ở động Hoa Nghiêm hay bia Ngũ Uẩn Sơn ở động Vân Thông, từ những năm 1691 - 1760, cho thấy dấu vết của đời sống tâm linh và những con người đã đến, dừng lại rồi gửi vào đá núi một phần tâm tưởng của mình.
Những dòng chữ ghi tên người công đức quanh Hội An, trong không gian Minh Hương và Nhật Bản Dinh, lại kể câu chuyện những cộng đồng từ bên ngoài đến đây rồi bén rễ, sống cùng đất Quảng và trở thành một phần của lịch sử xứ này.
Dòng đời ấy còn là truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo được lưu danh trên bia các văn thánh ở Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An, Chiên Đàn - Tam Kỳ. Nhìn vào những dòng chữ Nho, người đời sau không chỉ gặp tên tuổi người xưa mà còn gặp một quan niệm sống, một cách nhìn về việc học và làm người.

Những trang tư liệu Hán Nôm được lưu giữ qua nhiều thế hệ là “kho ký ức” quý giá về đất và người xứ Quảng. Ảnh: VHA
Dòng đời còn được giữ trong các nhà thờ tộc, nơi gia phả không chỉ ghi tên người đã khuất mà kể những cuộc thiên di, khai khẩn và lập nghiệp. Chẳng hạn, Nguyễn Viết đại tộc thế miếu thạch văn ở Thanh Hà, hay Hương Quế xã Phạm từ phả ký kể về dòng họ Phạm từ Thanh Hóa vào Quế Sơn lập nghiệp, là những mảnh ghép để nhận ra con đường hình thành cộng đồng cư dân xứ Quảng.
Mạch chữ, vì vậy, không phải những gì đã nằm yên trong quá khứ. Nó vẫn chảy cùng dòng đời hôm nay. Vấn đề là chúng ta có giữ được những gì tiền nhân trao truyền hay không.
Một di sản chỉ thực sự sống khi người đương thời còn đọc được nó. Từ mạch chữ, ta nghe được tiếng nói của người xưa, hiểu họ đã đến từ đâu, đã sống thế nào, tin vào điều gì và gửi lại điều gì cho mai sau.
Chỉ khi giữ gìn và giải mã được mạch chữ, chúng ta mới thấu hiểu được dòng sử và tiếp nối, phát huy giá trị hữu ích cho dòng đời, giữ gìn trọn vẹn nguồn tri thức vô giá mà cha ông đã dày công trao truyền cho hôm nay.
Giữ được mạch chữ là giữ được một phần ký ức.
Giải mã được mạch chữ là hiểu thêm một phần cội nguồn.
Và nối được mạch chữ với dòng đời hôm nay, ấy là cách để một vùng đất không đánh mất mình trong bước đi tới ngày mai.

