'Ma trơi' lập lòe nhảy múa trong văn hóa!

Ma trơi thường xuất hiện vào lúc trời nhá nhem chạng vạng, lúc nửa tối nửa sáng, ngày đêm giao hòa. Như bài ca dao người Việt: 'Hú ma trơi/ Mặt trời chửa lặn/ Con rắn bò ra/ Con ma thập thò'. 'Thập thò' tức còn đang ở cửa hang, chưa ra khỏi, chưa rõ hình hài. Càng về khuya nó mới càng rõ sự 'lập lòe'.

Truyện “Khuyển đăng” (trong “Liêu trai chí dị” của Bồ Tùng Linh) có tả một cảnh ma quái dị. Đứa đầy tớ của Hàn Quang Lộc đang đêm trông thấy rõ ràng trên lầu có ánh đèn như ngôi sao sáng, rồi tự nhiên lập lòe rơi xuống đất, hóa thành con chó, đi vào trong vườn, lại hóa thành một người con gái rất đẹp cúi xuống lay gọi anh ta. Hình ảnh “ánh đèn như ngôi sao sáng, rồi tự nhiên lập lòe rơi xuống”, dân gian gọi là “ma trơi”.

Ma trơi thường xuất hiện vào lúc trời nhá nhem chạng vạng, lúc nửa tối nửa sáng, ngày đêm giao hòa. Như bài ca dao người Việt: “Hú ma trơi/ Mặt trời chửa lặn/ Con rắn bò ra/ Con ma thập thò”. “Thập thò” tức còn đang ở cửa hang, chưa ra khỏi, chưa rõ hình hài. Càng về khuya nó mới càng rõ sự “lập lòe”. Sáng và xanh như ánh sáng đom đóm nhưng ma trơi rõ hơn nhiều, thế nên có thành ngữ: “Đom đóm lại bắt nạt ma trơi”.

Trong thơ Việt Nam hiện đại, một tác giả tả ma trơi giỏi là Mai Thảo, trong bài “Chờ đợi nghìn năm”, có câu lột tả đúng “hình hài” đối tượng: “Mồ chiều xanh lạnh lửa ma trơi”.

Tranh vẽ ma trơi (hitodama) Nhật Bản.

Tranh vẽ ma trơi (hitodama) Nhật Bản.

“Văn tế thập loại chúng sinh” của Nguyễn Du thể hiện sâu sắc chủ nghĩa nhân đạo thương xót những những hạng người khổ đau trong xã hội. Ông tả cảnh tha ma những chúng sinh xấu số, tất nhiên, theo tín ngưỡng Việt, có hình ảnh ma trơi. Cảnh ấy lại đặt trong không gian cảm thương thống thiết: “Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt/ Toát hơi may lạnh buốt xương khô”. Những kiếp người khốn khổ mờ đi, để hiện lên: “Bãi tha ma kẻ dọc người ngang/ Cô hồn nhờ gửi tha phương/ Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng/ Lập lòe ngọn lửa ma trơi/ Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương”.

Nguyễn Du vẫn là thiên tài trong tả cảnh, kể cả cảnh tha ma “lạnh lùng”. Sau này Tiền quân Nguyễn Văn Thành (1758-1817), một vị tướng thời Nguyễn có công lớn trong việc giúp Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua Gia Long, giữ đến chức Tổng trấn Bắc Thành, viết “Văn tế trận vong tướng sĩ” rất mực cảm động, thương xót: “Mịt mù gió lốc thổi dấu tha hương/ Mặt chinh nhân khôn vẽ nét gian nan/ Lập lòe lửa trơi, soi chừng cổ độ”.

“Lửa trơi” tức “ma trơi”, dân gian còn gọi là “lửa ma” hay có ở các nghĩa địa. “Cổ độ” là mồ mả cũ, rải rác trên đồng ruộng hoặc nghĩa địa.“Soi chừng cổ độ” tức những ngọn lửa ma trơi lập lòe, soi sáng cho những ngôi mộ cổ, gợi lên sự cô quạnh, bi thương trong không gian đậm chất cảm thương, cô liêu, ma quái…

Dưới góc nhìn khoa học hóa học, “ma trơi” không hề bí ẩn, không phải là một loại ma quỷ, càng không có khả năng hại người. Ma trơi thường gặp ở những nghĩa địa, là những đốm lửa xanh nhảy nhót, lập lòe gây ảo giác sợ hãi. Đó là sự tham gia của 2 chất khí hotphin (PH3) và điphotphin (P2H4) có khả năng tự cháy trong không khí, khi cháy tạo ra nhiệt lượng làm tăng nhiệt độ lên đến khoảng 150oC. PH3 tiếp tục cháy làm xuất hiện“ngọn lửa lân tinh”, tức“ma trơi”, có được bởi sự phân hủy xương, xác động thực vật ở các khu vực, ngoài nghĩa địa, còn có ở rừng hoang, đầm lầy...

Hiểu đơn giản, đó là nguồn phốt-pho để hình thành PH3, P2H4 bằng hoạt động của các vi khuẩn trong đất. Chúng tích tụ, gặp điều kiện thuận lợi thì bốc cháy, chờn vờn những đốm lửa xanh. Phản ứng hóa học này xảy ra vào cả ngày và đêm, nhưng ban đêm thì hiện rõ hơn, và cũng “ma quái” hơn. “Ma trơi” đuổi theo người, là do luồng gió được tạo ra khi thân người chuyển động…

Trong văn hóa nhân loại, “ma trơi” xuất hiện từ trong những truyền thuyết dân gian đến văn chương bác học. Ánh sáng lập lòe giữa đêm tối nơi nghĩa trang, đầm lầy… được hiểu là những linh hồn vất vưởng, hay ẩn dụ cho tội lỗi, hoặc là những khát vọng, mong muốn được cứu rỗi, thậm chí biểu trưng cho kiếp người trôi nổi, phù du… cứ hấp dẫn, mời gọi.

Tên khoa học là “ignis fatuus” có nghĩa đen là “đốm lửa trên bãi tha ma”, văn hóa phương Tây gọi ma trơi là đèn bí ngô (Jack-o'-lantern) xuất phát từ một truyền thuyết dân gian Ireland về một gã say tên là Stingy Jack, sau đó lan vào văn hóa lễ hội Halloween.

Theo truyền thuyết, Jack đã trêu chọc quỷ Satan nên bị nguyền rủa phải lang thang trên trái đất với một ngọn nến đặt bên trong quả củ cải rỗng ruột để soi đường. Khi người Ireland đến Mỹ, thấy bí ngô có kích thước dễ tạo ra những chiếc đèn lồng, bèn thay thế vật liệu củ cải bằng bí ngô. Thế là Jack “xách” cái đèn bí ngô này vào lễ hội Halloween để nó trở thành biểu tượng cho sự xua đuổi tà ma cùng linh hồn xấu.

Lại có nơi hiểu đèn bí ngô là biểu tượng của linh hồn cầm đèn dẫn dụ những ai đi một mình trong đêm sẽ bị lạc vào đầm lầy. Thế nên, nhìn thấy phải tránh xa… Lại có nơi coi ma trơi là những đốm sáng rong ruổi khắp nơi, dẫn đường cho người tốt tìm đến kho báu, đưa những kẻ xấu xuống vũng lầy. Nếu ai bỏ chạy, chúng sẽ đuổi theo khiến sợ hãi mà ngất đi…

Ở xứ Wales, những đốm lửa xanh lét lập lòe trên các vùng đầm, trong các bãi tha ma gieo rắc nỗi sợ hãi và tò mò trong hàng mấy thế kỷ. Người dân quan niệm rằng ma trơi do thánh Davis tạo ra để báo trước cái chết của một người nào đó. Khi thấy một ma trơi gần đó thì sắp có một người ra đi. Lửa ma trơi màu xanh, người chết sẽ là một người trẻ tuổi, lửa có màu vàng, người chết sẽ là một người lớn tuổi. Người xứ Wales cũng tin, nhìn vào đốm lửa ma trơi sẽ thấy gương mặt của người sắp chết.

Tranh vẽ "ma trơi" phương Tây.

Tranh vẽ "ma trơi" phương Tây.

Ở châu Á, có nơi coi ma trơi là hồn ma của những người chết trẻ hoặc oan uổng. Lại có vùng xem ma trơi là một loại ma nhỏ trong hình dạng một đốm lửa xanh, thường trêu chọc người đi đường. Trong kho tàng văn hóa dân gian Nhật Bản, ma trơi được gọi là hitodama có nghĩa là “linh hồn người” được biểu hiện vật chất là những đốm sáng xanh lơ lửng trong đêm tối, ở nghĩa địa, bến sông hay rừng sâu.

Theo truyền thuyết, hitodama là linh hồn rời khỏi cơ thể sau khi con người qua đời, xuất hiện trong vòng ba ngày sau cái chết, trước khi linh hồn ấy bay sang thế giới khác. Khi một người chết, linh hồn thoát ra dưới dạng một quả cầu ánh sáng, có “đuôi lửa”. Nó là biểu tượng của sự chuyển tiếp giữa hai thế giới - sống và chết.

Hình ảnh hitodama xuất hiện nhiều trong tranh vẽ hồn ma, trong kịch (Noh và Kabuki). Những ánh sáng lơ lửng bập bùng tượng trưng cho sự hiện diện của linh hồn hoặc cảm xúc còn vương vấn nơi trần thế, gợi nỗi tiếc thương, u hoài hoặc lời nhắn gửi của người đã khuất.

Người Nhật tin rằng vạn vật đều có “kami” - thần linh hoặc hồn phách - nên ngay cả hiện tượng tự nhiên kỳ lạ như ánh lửa ma trơi cũng được xem là biểu hiện của linh khí, chứ không phải điều đáng sợ. Trong lễ hội Obon, khi người dân thắp đèn lồng để đón linh hồn tổ tiên trở về, ánh sáng của những ngọn đèn ấy cũng được xem như hình ảnh thiêng hóa của hitodama, tượng trưng cho linh hồn về đoàn tụ với gia đình. Ý nghĩa của nó phần nhiều mang tính thẩm mỹ và tâm linh: gợi cảm giác lặng lẽ, buồn man mác, thương cảm.

Phù hợp với tín ngưỡng thế giới người sống và thế giới linh hồn luôn song hành, đan xen; cái chết không phải là hết, mà là sự tiếp nối trong một hình thức khác của tồn tại; như một tất yếu, hitodama đi vào mỹ cảm “aware” (tức cảm xúc, vốn là một cảm thán từ, biểu thị sự ngạc nhiên với vẻ đẹp, với nỗi buồn đau) để trở thành một thuật ngữ mỹ học Nhật Bản.

Trong “Vạn diệp tập” tuyển tập thơ đồ sộ cổ xưa nhất - một bảo vật tinh thần trong văn hóa Nhật, từng mô tả: “Khi ở một mình vô tình nhìn thấy hitodama thì sẽ nghĩ đến những thứ tang thương đã diễn ra trong đêm mưa”. Ở một vài địa phương thuộc Nhật Bản quan niệm, hitodama là những ngọn lửa bí ẩn dẫn dụ con người tìm đến cái chết. Điều này góp phần lý giải, có những người tự tử thường tìm đến những khu rừng xa vắng - nơi có nhiều ma trơi.

Mong bạn đọc không “aware” (buồn) vì hitodama Nhật Bản, vậy được chép bài ca dao trào phúng vui vẻ của người Việt về ma trơi, đọc lên sẽ tự nhiên có so sánh, liên tưởng về tính cách mỗi dân tộc trước một hiện tượng tự nhiên: “Khốn nạn thay nhạn ở với ruồi/ Tiên ở với cú, người cười với ma/ Thân anh như ngọc như ngà/ Vợ anh ở nhà như thể ma trơi/ Đừng về với nó anh ơi/ Vợ anh nửa người mà lại nửa ma”.

Rất có thể đây chỉ là lời của “ma trơi” nên bạn đừng nghe, mà chỉ để biết và ngầm so sánh thôi. Nhưng phải thừa nhận cách tả “ma người” cực giỏi của dân gian, từ cấu trúc đối lập trời vực, gay gắt các phạm trù, để bật ra câu cuối, như có sức “lôi kéo” anh chồng nào thiếu bản lĩnh!

Nguyễn Thanh Tú

Nguồn VNCA: https://vnca.cand.com.vn/doi-song-van-hoa/ma-troi-lap-loe-nhay-mua-trong-van-hoa--i789502/