Mã số vùng trồng: Cấp dễ hơn, quản chặt hơn

Giảm thủ tục cấp mã số vùng trồng không đồng nghĩa với hạ thấp tiêu chuẩn xuất khẩu. Ngược lại, yêu cầu minh bạch và trách nhiệm của người sản xuất được đặt ra chặt hơn.

Cởi 'nút thắt' thủ tục nhưng không hạ thấp tiêu chuẩn xuất khẩu

Nhiều năm qua, mã số vùng trồng được xem là "tấm hộ chiếu" của nông sản Việt Nam trên hành trình chinh phục các thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của hoạt động xuất khẩu, cơ chế cấp mã số cũng bộc lộ những bất cập khi chưa theo kịp thực tế sản xuất nhỏ lẻ, trồng xen, vốn là đặc trưng của nông nghiệp Việt Nam. Đó là lý do Chính phủ ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực trồng trọt.

Nghị quyết số 36 hướng tới quản lý mã số vùng trồng bằng dữ liệu, hậu kiểm và trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu.

Nghị quyết số 36 hướng tới quản lý mã số vùng trồng bằng dữ liệu, hậu kiểm và trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu.

Nhìn ở góc độ cải cách thủ tục hành chính, những thay đổi của Nghị quyết khá rõ nét. Quy định về diện tích tối thiểu được bãi bỏ; vùng trồng xen đáp ứng yêu cầu quản lý và truy xuất nguồn gốc được xem xét cấp mã số; thành phần hồ sơ giảm hơn một nửa, thời gian giải quyết cũng được rút ngắn đáng kể, đặc biệt đối với các trường hợp không phục vụ xuất khẩu.

Tuy nhiên, giá trị của Nghị quyết số 36 không chỉ nằm ở việc cắt giảm bao nhiêu giấy tờ hay rút ngắn bao nhiêu ngày xử lý hồ sơ. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương bên lề Hội nghị triển khai Nghị quyết số 36, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, đơn giản hóa thủ tục hành chính không đồng nghĩa với nới lỏng điều kiện xuất khẩu. Mã số vùng trồng chỉ là điều kiện ban đầu để hàng hóa tham gia thị trường; để duy trì xuất khẩu bền vững, vùng trồng vẫn phải tuân thủ quy trình sản xuất, ghi chép đầy đủ nhật ký canh tác, đáp ứng các yêu cầu về an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật và truy xuất nguồn gốc theo quy định của từng nước nhập khẩu.

Điều đó cũng có nghĩa, thủ tục được đơn giản hơn nhưng trách nhiệm của người sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp lại được nâng lên. Đây cũng là xu hướng quản lý mà nhiều thị trường nhập khẩu đang áp dụng: giảm rào cản hành chính nhưng tăng yêu cầu về minh bạch dữ liệu và khả năng truy xuất nguồn gốc.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp.

Điểm thay đổi căn bản của Nghị quyết số 36 nằm ở tư duy quản lý. Theo cơ chế mới, người dân và doanh nghiệp thực hiện đăng ký trực tuyến, tự kê khai và chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin đã cung cấp. Cơ quan quản lý chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm; chỉ kiểm tra trước đối với những trường hợp thị trường nhập khẩu yêu cầu, còn lại tăng cường giám sát sau cấp mã. Đây là cách tiếp cận phù hợp với xu hướng quản trị hiện đại, vừa giảm chi phí tuân thủ vừa bảo đảm hiệu lực quản lý thông qua cơ chế giám sát và xử lý vi phạm.

Một điểm mới đáng chú ý khác là việc phân cấp mạnh thẩm quyền cấp mã số vùng trồng cho UBND cấp xã. Theo ông Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, các địa phương cần khẩn trương bố trí nhân lực, tập huấn nghiệp vụ để cấp xã có thể triển khai ngay khi chính sách có hiệu lực. Không chỉ rút ngắn khoảng cách giữa cơ quan quản lý và người dân, việc phân cấp còn thể hiện quan điểm mới: quản lý vùng trồng phải bắt đầu từ nơi sản xuất, nơi hiểu rõ nhất hiện trạng canh tác và có điều kiện giám sát thường xuyên.

Ông Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật.

Quan trọng hơn, mã số vùng trồng sẽ không còn là một thủ tục độc lập mà được gắn với cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia. Khi mỗi mã số được liên kết với mã định danh của từng thửa đất, hệ thống truy xuất nguồn gốc sẽ minh bạch và chính xác hơn, tạo khả năng kết nối xuyên suốt từ vùng nguyên liệu, cơ sở đóng gói, phòng thử nghiệm đến doanh nghiệp xuất khẩu. Đây là nền tảng để chuyển từ quản lý bằng hồ sơ giấy sang quản trị bằng dữ liệu số.

Thể chế đã mở, thực thi phải theo kịp

Nếu Nghị quyết số 36 là bước đột phá về thể chế thì việc chính sách đi vào cuộc sống lại phụ thuộc vào năng lực triển khai của chính quyền địa phương và các chủ thể trong chuỗi sản xuất. Thực tế cho thấy, khi rào cản thủ tục được gỡ bỏ, thách thức không còn là cấp thêm bao nhiêu mã số vùng trồng mà là duy trì chất lượng, bảo đảm tính minh bạch và khả năng truy xuất của từng vùng nguyên liệu.

Theo ông Vũ Đình Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng, áp lực hiện nay không nằm ở việc cấp thêm mã số mà ở việc duy trì uy tín của các vùng trồng đã được cấp mã. Mỗi mùa thu hoạch sầu riêng, nhu cầu kiểm nghiệm tăng mạnh trong khi hệ thống phòng thử nghiệm và lực lượng hậu kiểm chưa đáp ứng yêu cầu.

Ở Đắk Lắk, địa phương lựa chọn hướng đi dựa trên chuyển đổi số với chiến dịch "30 ngày đêm" nhằm số hóa dữ liệu vùng trồng sầu riêng, kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc và bản đồ số nông sản. Trong khi đó, đối với Gia Lai, việc phân cấp mạnh cho cấp xã chỉ phát huy hiệu quả khi đội ngũ cán bộ cơ sở được đào tạo bài bản và triển khai thống nhất. Những kiến nghị từ các địa phương cho thấy, cải cách thủ tục hành chính mới chỉ là điều kiện cần; điều kiện đủ là phải nâng cao năng lực của toàn bộ hệ thống thực thi.

Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia.

Đồng quan điểm, ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng, nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là chuẩn hóa năng lực của cán bộ quản lý, lực lượng khuyến nông, hợp tác xã và người sản xuất. Việc xây dựng học liệu điện tử, sổ tay hướng dẫn và quy trình kỹ thuật thống nhất trên phạm vi cả nước sẽ là nền tảng để chính sách được triển khai đồng bộ.

Mỗi mùa nông sản, phía sau những đoàn xe container nối dài hướng tới cửa khẩu không chỉ là câu chuyện về sản lượng hay giá bán, mà còn là năng lực truy xuất nguồn gốc, chất lượng vùng nguyên liệu và mức độ minh bạch của cả chuỗi sản xuất. Nếu trước đây, mã số vùng trồng chủ yếu được xem là điều kiện để nông sản tham gia thị trường xuất khẩu thì nay đã trở thành công cụ quản lý chuỗi sản xuất. Việc kết nối dữ liệu vùng trồng với cơ sở dữ liệu đất đai, cơ sở đóng gói, phòng thử nghiệm và doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tạo nên hệ thống truy xuất nguồn gốc đồng bộ, giúp cơ quan quản lý kiểm soát rủi ro đến từng thửa đất, từng hộ sản xuất thay vì xử lý theo diện rộng như trước.

Thành công của Nghị quyết số 36 vì thế không nằm ở số lượng mã số vùng trồng được cấp thêm, mà ở khả năng xây dựng một hệ thống sản xuất minh bạch, truy xuất được nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu. Khi "nút thắt" về thủ tục được tháo gỡ, yêu cầu đặt ra là mỗi mã số vùng trồng phải gắn với chất lượng vùng nguyên liệu, trách nhiệm của người sản xuất và năng lực quản lý của địa phương. Chỉ khi đó, mã số vùng trồng mới thực sự trở thành "tấm bảo chứng" cho chất lượng nông sản, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững ngành hàng xuất khẩu.

Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP không chỉ tháo gỡ những "điểm nghẽn" trong cấp mã số vùng trồng mà còn mở ra bước chuyển từ quản lý bằng điều kiện hành chính sang quản trị bằng dữ liệu, hậu kiểm và trách nhiệm của người sản xuất, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu.

Nguyễn Hạnh

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/ma-so-vung-trong-cap-de-hon-quan-chat-hon-468077.html